Tài liệu kỹ thuật nuôi TCT

 11:01 22/08/2017

 Lượt xem: 295

 
Tài liệu kỹ thuật nuôi TCT

Phần I

SƠ LƯỢC MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA TÔM CHÂN TRẮNG

1, Phân bố.

          Tôm chân trắng (Penaeus vannamei Boone, 1931 tên khác Litopennaeus vannamei Boone, 1931) có nguồn gốc từ các nước ven bờ Tây Thái Bình Dương, Nam Trung Mỹ. Trên thế giới, tôm chân trắng được nuôi nhiều ở các nước Nam Mỹ, Nam Trung Mỹ. ở châu á không có tôm chân trắng phân bố tự nhiên, song từ những thập niên 80,90 đối tượng này đã được di nuôi thử nghiệm thành công và đến nay đã có nhiều nước cho phát triển mạnh loài tôm nay như Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Malaysia,... Năm 2003, tổng sản lượng tôm chân trắng ở châu á ước tính vào khoảng 500.000 tấn và giá trị xuất khẩu tương đương 4,0 tỷ USD. Điều này cho thấy tôm chân trắng sẽ là đối tượng nuôi quan trọng ở các quốc gia châu á, bên cạnh đối tượng nuôi truyền thống là tôm sú trong thời gian đến. ở Việt nam, trong những năm gần đây tôm chân trắng cũng được đưa vào nuôi thử nghiệm và được phát triển mạnh tại một số tỉnh như Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Trị và Hà Tĩnh,... bước đầu được đánh giá là dễ nuôi, có những ưu điểm nhất định so với tôm sú và có hiệu quả kinh tế tương đối cao, có triển vọng thay thế một phần diện tích vùng nuôi tôm sú kém hiệu quả mà đặc biệt là các vùng trên cát.

2, một số đặc điểm thích nghi với môi trường.

- Tôm chân trắng là loài rộng muối, chúng có thể chịu đựng được độ mặn từ 0,5 – 450/00, tăng trưởng tốt ở độ mặn từ 10 –300/00.

- Tôm chân trắng chịu đựng nhiệt độ thấp tốt (tốt hơn tôm sú), có thể phát triển ở nhiệt độ từ 17 – 370C, thích hợp: 25 – 320C.

- pH từ 7,0 – 9,0, thích hợp : 7,5 – 8,8.

- Hàm lượng ôxy hòa tan: tôm chân trắng phát triển nhanh khi có đầy đủ hàm lượng ôxy hòa tan, nếu ôxy hòa tan dưới 3,5 ppm tôm chậm phát triển, nếu dưới 2,5ppm tôm bắt đầu nổi đầu và chết ngạc. yêu cầu hàm lượng ôxy hòa tan khi nuôi tôm chân trắng phải > 4,0 ppm.

- Chất đáy cát, cát bùn, đáy cứng sẽ rất thuận lợi cho tôm phát triển.

3, Đặc điểm dinh dưỡng.

          Tôm chân trắng là loài ăn tạp, có thể ăn nhiều lọai thức ăn có nguồn gốc từ động, thực vật, trong nuôi nhân tạo có thể sử dụng các loại thức ăn công nghiệp chuyên dùng. Tôm chân trắng có nhu cầu chất đạm thấp hơn (20 –35%) so với tôm sú (38 – 40%), hệ số thức ăn thấp, khoảng 1,2 so với tôm sú là 1,5 vì thế có thể giảm đi chi phí sản xuất và thuận lợi cho các hệ thống sản xuất tuần hòan. (hiện nay theo thống kế các mô hình nuôi tôm chân trắng tại Ninh Thuận thì hệ số thức ăn (FCR) cuả tôm chân trắng dao động từ 0,9 -1,1, phổ biến 1,0).

4, Sinh sản.

          Tôm chân trắng là loài thụ tinh ngòai, chúng có thể thành thục và đẻ trứng quanh năm, các giai đọan ấu trùng cũng tương tự như tôm sú. Trong điều kiện nhân tạo tôm chân trắng cũng có thể thành thục và đẻ trứng, do vậy hiện nay trên thế giới đã có nhiều công ty chuyên sản xuất giống tôm chân trắng bố mẹ đạt chất lượng cao phục vụ cho nhu cầu sản xuất giống. Trong điều kiện nhân tạo đã sản xuất được con giống bố mẹ "sạch bệnh đặc thù – (SPF)" và "kháng bệnh đặc thù – (SPR)".

5, Sinh trưởng.

          Tôm chân trắng sinh trưởng thông qua quá trình lột xác, chu kỳ lột xác phụ thuộc vào từng giai đọan phát triển. Tôm chân trắng có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, trong giai đọan < 20g/con, tôm chân trắng có thể tăng trưởng 1,5 g/tuần (tôm sú 1g/tuần), trong thời gian nuôi từ 75 – 85 ngày từ PL12, tùy theo mật độ nuôi, điều kiện môi trường tôm có thể đạt trọng lượng từ  10 –12g/con.

Phần II

KỸ THUẬT NUÔI TÔM CHÂN TRẮNG

1, Chọn địa điểm xây dựng ao nuôi:

          Chọn địa điểm để đầu tư xây dựng ao nuôi là rất quan trọng có ảnh hưởng lớn đến mức đầu tư, tính rủi ro trong quá trình nuôi tôm. Để chọn được địa điểm phù hợp phải xem  xét nguồn nước, chất đất và cơ sở hạ tầng. Việc xem xét cẩn thận là rất cần thiết để:

          - Giảm  giá thành xây dựng.

          - Giảm  chi phí sản xuất.

          - Bảo đảm cấp đủ nước.

          - Cho phép điều chỉnh hệ thống nuôi cho phù hợp với những thay đổi về kinh tế và môi trường.

1.1, Nguồn nước cấp:

Hai yếu tố căn bản của nguồn nước cần lưu ý đó là độ mặn nguồn nước cấp và pH, ngoài ra còn phải tính toán đến tính ổn định của nguồn nước, chi phí cấp thoát nước, nguy cơ bị ô nhiễm nguồn nước do công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt và kể cả do hoạt động nuôi trồng thuỷ sản gây ra…

1.2, Vị trí và điều kiện chất đất:

 Vị trí xây dựng ao nuôi cần lưu ý đến điều kiện thuận lợi cho việc cấp và thoát nước được thuận lợi. Ao nuôi có thể cấp nước được dễ dàng và có thể tháo nước tự chảy nhằm giảm chi phí bơm nước. Chất đất cũng có ảnh hưởng rất lớn đến việc thi công xây dựng ao, quản lý chất lượng nước ao nuôi sau này và có ảnh hưởng lớn đến kết quả nuôi. Ao nuôi tôm chân trắng cần chọn những vùng đất cát, đất cát pha, nền đất cứng, pH đất > 6,0; tránh những khu vực rừng ngập mặn, sình lầy, những vùng đất như thế vừa gây khó khăn cho thi công xây dựng ao nuôi vừa gây khó khăn trong quá trình quản lý chất lượng nước trong quá trình nuôi.

1.3, Cơ sở hạ tầng: 

Đường đến ao nuôi có thể là đường thuỷ hay đường bộ nhưng phải thuận lợi quanh năm. Điều này quan trọng cho việc vận chuyển tôm thu hoạch, vận chuyển vật tư, thức ăn, con giống,… đến cơ sở nuôi được nhanh chóng, thuận lợi, ngoài ra việc chọn nơi xây dựng ao nuôi tôm cần lưu ý các điều kiện sau đây:

          - Khả năng cung cấp thức ăn và các thứ cần thiết khác phục vụ quá trình nuôi.

          - Nguồn lao động.

          - Cán bộ có trình độ khoa học kỹ thuật, quản lý.

          - Nguồn nhiên liệu hoặc nguồn điện, hiện nay khu vực có nguồn điện là rất tiện lợi và sẽ làm giảm chi phí sản xuất đáng kể do giá dầu hiện nay khá cao và có xu thế ngày càng tăng.

          - Hệ thống thông tin liên lạc

          - An ninh.

2, Thiết kế và xây dựng ao nuôi.

          Ao nuôi tôm có thể có rất nhiều kiểu dáng khác nhau, mỗi kiểu dáng có những thuận lợi riêng. Việc xây dựng hệ thống ao nuôi cần phải dựa trên cơ sở năng suất muốn đạt được, lượng nước cần thay và khả năng tái sử dụng nước. Điều này phải phù hợp với địa điểm xây dựng ao nuôi nhưng cũng phải lưu ý đến khả năng uyển chuyển cho phù hợp với những tình cảnh có thể thay đổi. Thiết kế hệ thống ao nuôi cần tính tới những vấn đề căn bản dưới đây:

          - Cống đầu nguồn và hệ thống bơm nước.

          - Ao chứa nước.

          - Hệ thống kênh cấp nước.

          - Ao nuôi.

          - Hệ thống kênh thoát nước, ao lắng và ao xử lý nước trước khi xả ra  môi trường ngoài.

          - Nhà cữa và khả năng thay đổi hệ thống ao nuôi.

2.1, Ao chứa nước:

Ao chứa nước có vai trò quan trọng trong việc quản lý môi trường ao nuôi, nhất là ở những nơi mà chất lượng nước không ổn định hoặc cấp nước không được liên tục như ở vùng cửa sông, vùng dự án chỉ cấp nước theo “phiên”. Ao chứa còn có vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa dịch bệnh lây lan vào ao nuôi. Ao chứa còn có chức năng như hệ thống lọc sinh học để cải thiện chất lượng nước cấp. Không nên xây dựng ao chứa ở nơi đất nhiễm phèn tiềm tàng hay đất xốp. Ao chứa phải đủ rộng để chứa khoảng 30% tổng lượng nước ở các ao nuôi và có cống thoát để tiêu nước. Trong nhiều trường hợp có thể tăng khả năng trữ nước cuả ao bằng cách đào ao sâu, nhưng có nơi điều này khó thực hiện được do chi phí cao hoặc do điều kiện thổ nhưỡng. Về mặt lý thuyết, nước thường tự chảy từ ao chứa sang ao nuôi. Nhưng trên thực tế, điều này lại khó thực hiện được và nhiều ao nuôi năng suất cao phải bơm nước từ ao chứa sang kênh cấp nước.

          Ở những vùng nước có quá nhiều chất vẩn cặn (như vùng cữa sông), ao nên có dạng khúc khuỷu hay có các bờ ngăn để làm chậm quá trình nước chảy qua ao và như vậy sẽ làm tăng quá trình lắng tụ chất vẩn cặn. Nên có khu vực chứa nước thải riêng biệt cho nguồn nước cấp và nước tái sử dụng.

2.2, Ao nuôi:

Mục tiêu chính cuả việc thiết kế ao tốt là giúp quản lý hiệu quả chất thải. Chất thải được gom tụ lại ở một nơi nào đó trong ao, thường là ở giữa ao. Một ao được thiết kế tốt cũng dễ quản lý về nhiều phương diện khác nữa như thay nước và thu hoạch tôm. Những lưu ý khi thiết kế ao nuôi là:

          - Hình dáng ao

          - Vị trí đặt máy sục khí

          - Kích cỡ ao nuôi

          - Bờ ao

          - Gia cố mặt bờ và đáy ao

          - Cống cấp và tiêu nước.

 2.2.1, Hình dáng ao:

          Hình dáng ao, vị trí đặt máy sục khí và dòng chảy trong ao quyết định đến sự di chuyển cuả chất thải. ở ao nuôi năng suất cao, cần giữ đáy ao sạch đủ rộng để giúp cho tôm bắt mồi hiệu quả (hình dáng ao và diện tích ao sao cho khi đặt quạt nước sẽ tạo ra diện tích vùng đáy ao sạch là cao nhất và diện tích vùng đáy ao dơ là thấp nhất). Ao hình vuông hoặc hình tròn là tốt nhất. Tuy nhiên, ao hình chữ nhật cũng tốt miễn là có thể tạo được dòng chảy tròn trong ao. Có thể cải thiện dòng chảy trong ao hình chữ nhật hay hình vuông bằng cách đắp đất bo tròn các góc ao.

          Ở ao nuôi năng suất thấp, nhìn chung, người nuôi ít có khả năng thực hiện có hiệu quả việc lưu thông nước trong ao nên chất thải thường không tập trung vào giữa ao. ở những ao nuôi như vậy nên tạo những vùng sạch hẹp ven bờ.

2.2.2, Vị trí đặt máy sục khí

          Máy sục khí có 2 chức năng, nhất là trong ao nuôi thâm canh là tạo dòng nước trong ao và cung cấp thêm ôxy cho ao nuôi. Như đã nêu, vị trí đặt máy sục khí và hình dạng ao nên hài hoà với nhau để tạo ra diện tích đáy ao sạch càng rộng càng tốt, không bị chất thải tích tụ. Khi tôm lớn lên, số lượng máy sục khí cũng tăng theo. Nhưng điều quan trọng là những máy sục khí đặt thêm phải ở những vị trí thích hợp tránh làm xáo trộn các chất thải đã lắng tụ. Vị trí lắp đặt và cách vận hành máy sục khí phù hợp sẽ giúp ích rất nhiều trong quản lý môi trường, chất thải trong ao nuôi.

2.2.3, Kích cỡ ao nuôi

          Ao nhỏ sẽ dễ quản lý hơn nhưng chi phí xây dựng và vận hành cao. Trong hầu hết các trường hợp, ao có diện tích 3000 - 4000 m2 sẽ thuận lợi cho chăm sóc, quản lý, vận hành quạt nước và cho năng suất cao.

          Độ sâu của ao nuôi cũng có ảnh hưởng lớn đến sự xáo trộn các yếu tố môi trường, mật độ nuôi. Trong nuôi tôm thâm canh, bán tham canh cần thiết kế ao đảm bảo giữ được mực nước từ 1,5 m trở lên.

3, Chuẩn bị ao nuôi

          Công việc chuẩn bị ao gồm nhiều khâu đòi hỏi phải thực hiện trước khi đưa ao vào sử dụng lần đầu cũng như trước mỗi vụ nuôi. mục đích chính cuả việc chuẩn bị ao là tạo cho tôm nuôi có được một nền đáy ao sạch, chất lượng nước thích hợp và ổn định.

          Tùy theo điều kiện vùng nuôi, đáy ao mà có thể áp dụng phương pháp cải tạo khô hoặc cải tạo ướt, cũng có thể vừa áp dụng biện pháp cải tạo ướt kết hợp cải tạo khô. Mỗi phương pháp có ưu, nhược riêng, có thể tóm tắt ưu nhược điểm tương đối của phương pháp tẩy dọn khô và tẩy dọn ướt như sau:

Bảng 1: Tóm tắt ưu nhược điểm của cải tạo khô và cải tạo ướt

 

Phương pháp cải tạo khô

Phương pháp cải tạo ướt

Thời gian dọn tẩy

Lâu và không làm được trong mùa mưa

Nhanh chóng và làm được mọi lúc

Chi phí

Tuỳ thuộc vào diện tích ao và thường cao

Tùy thuộc vào diện tích ao

Hiệu quả dọn bỏ chất thải

Không ổn định

Tốt

Dọn tẩy chất thải trong nền đáy cát

Không ổn định

Tốt

Dạng chất thải

Rắn, dễ làm

Bùn lỏng, khó làm

Đất phèn

Phải thực hiện cẩn thận

Ao ít bị phèn hoá hay xì phèn

Khả năng tẩy trùng

Không ổn định

Cần phải bón thêm vôi

Thu gom chất thải

Cần có chỗ đổ

Cần có ao chứa lắng

3.1, Bón vôi

3.1.1,  Các dạng vôi

          Có nhiều dạng vôi được sử dụng trong nuôi tôm, cơ bản là làm tăng khả năng đệm cuả nước ao nuôi và tăng pH.

a, Vôi nông nghiệp/đá vôi hoặc vỏ sò xay (CaCO3)

          Các dạng vôi này thường là đá vôi hay vỏ sò nghiền. Chất lượng của chúng cũng rất khác nhau ví dụ như khi có trộn lẫn đất. Vôi thường được khuyến cáo sử dụng là loại vôi có chứa từ 75% CaCO3 trở lên, đá vôi mịn là thích hợp nhất cho ao nuôi tôm. Loại vôi này được sử dụng để làm tăng khả năng đệm của nước và có thể được sử dụng với số lượng lớn vì nó không gây ảnh hưởng nhiều đến pH nước. Dung dịch 10% vôi trong nước cất phải có pH khoảng 9,0. Lượng vôi thường bón là 100 - 300 kg/ha/lần.

b, Đá vôi đen (CaMg(CO3)2

          Đây là loại đá vôi nghiền khác có chứa ma- nhê (Mg). Loại vôi này được sử dụng chủ yếu là để tăng khả năng đệm của nước và cung cấp ma-nhê. Giống như vôi nông nghiệp, loại vôi này cũng ít ảnh hưởng đến pH cuả ao. Dung dịch 10% vôi trong nước cất phải có pH khoảng 9,0 đến 10,0. Lượng vôi thường bón là 100 - 300 kg/ha/lần. Đá vôi đen, vôi nông nghiệp, đá vôi, bột vỏ sò có khi cũng được gọi là vôi chứa can xi.

c, Vôi tôi hay vôi ngậm nước (Ca(OH)2).

          Loại vôi này được sản xuất bằng cách nung đá vôi ở nhiệt độ 800 - 900oC. sau khi nung thì cho nước vào khi đá vôi còn nóng để cho vôi mịn ra. Vôi được dùng để làm tăng pH nước hoặc đất. Dung dịch 10% vôi trong nước cất phải có pH khoảng 11. Lượng vôi thường bón là 50 -100 kg/ha/lần. Vì vôi toi có thể gây ảnh hưởng đáng kể đến pH nước nên tránh bón vôi cho ao vào buổi chiều khi pH ao thường cao nhất.

d, Vôi sống/vôi nung hay vỏ sò nung (CaO)

          Loại vôi này cũng được sản xuất bằng cách nung đá vôi ở nhiệt độ cao nhưng không cho nước vào. dạng vôi hoạt tính cao này có ảnh hưởng rất lớn đến pH nước nên không dùng để bón cho những ao đang nuôi tôm mà chỉ nên sử dụng để điều chỉnh pH đất khi chuẩn bị ao. Dung dịch 10% vôi trong nước cất phải có pH khoảng 12.

3.1.2, cách bón vôi:

          Sau khi dọn sạch chất thải cần cho một ít nước vào ao để rửa trôi các mảnh vụn đồng thời cũng để kiểm tra độ pH cuả nước. Lượng nước này nên để qua đêm rồi tháo cạn. Có thể lập lại như thế nhiều lần cho tới khi pH ổn định ở mức trên 7.0

          Lượng vôi sử dụng cho ao sau lần tháo rửa cuối cùng tuỳ thuộc vào từng ao. Vôi dùng trong trường hợp này nên là vôi nông nghiệp (CaCO3) hay đá vôi đen (CaMg(CO3)2) để tạo pH và độ kiềm thích hợp nhất. Nên hạn chế lượng vôi bón vào giai đoạn chuẩn bị ao bỡi vì vôi sẽ được bón thêm trong quá trình nuôi. Việc bón vôi trước khi bơm nước vào ao bất tiện ở chỗ nó sẽ giảm hiệu quả cuả việc bón bột tẩy sau này. Nếu nước ao có độ kiềm và pH cao (>80mg CaCO3/L và pH>8) thì không cần bón bất kỳ loại vôi nào trong giai đoạn này (Ao nuôi trên cát không cần bón vôi trong quá trình cải tạo ao).

          Chỉ nên bón vôi tôi (Ca(OH)2) hay vôi sống CaO trong trường hợp đất ao quá phèn (pH<4). Nếu dùng vôi tôi và vôi sống để tăng pH đất ao thì pH nước tăng lên đáng kể khi lấy nước vào ao, điều này đặc biệt thể hiện rõ khi hệ đệm nước ao kém. Hiện tượng pH cao cũng sẽ kéo dài đáng kể và khó điều chỉnh trong ao nuôi thay nước ít.

          Lượng vôi bón khuyến cáo dùng trong giai đoạn chuẩn bị ao tuỳ thuộc vào pH cuả đất và được trình bày ở bảng 2. Độ pH cuả đất có thể đo bằng máy đo pH đất hoặc có thể phơi khô đất trong bóng rấm rồi cho vào nước cất với khối lượng bằng nhau, quậy kỹ cho tan đều và để lắng một đêm, sau đó đo độ pH cuả dung dịch. Theo cách này, có thể sử dụng dung dịch đo pH hoặc giấy đo pH.

          Bảng 2: Lượng vôi  khuyến cáo dùng trong giai đoạn chuẩn bị ao

Độ pH cuả đất

Lượng vôi nông nghiệp (CaCO3) (kg/ha)

Lượng vôi tôi  Ca(OH)2 (kg/ha)

>6

<1.000

300-400

5-6

<2.000

500-800

<5

<3.000

900-1.000

          Vôi cần được rải đều khắp đáy ao kể cả bờ ao. Một phần lớn vôi nên rải ở khu vực cho tôm ăn và các chỗ còn ướt cuả đáy ao. Việc bón thêm sẽ được thực hiện khi lấy nước vào ao

3.2, Chuẩn bị nước

          Mục đích của giai đoạn lấy nước, xử lý nước và bón phân gây màu là để thúc đẩy phiêu sinh vật phát triển tốt và ngăn ngừa các sinh vật khác vào ao nuôi.

          Sau khi bón vôi xong lấy nước đầy vào ao nuôi. Nước cấp vào ao phải được lọc qua lưới mịn (vải Katê) và cấp một lần đầy ao trước khi xử lý và gây màu nước.

          * Gây màu nước: gây màu nước có vai trò rất quan trọng vì:

- Tảo phát triển sẽ tạo ôxy vào ban ngày.

- Làm che khuất nền đáy và ngăn cản sự phát triển của các loài tảo đáy có hại.

- Tạo môi trường tốt hơn giúp tôm ít bị sốc.

- Hấp thu đạm và lân từ chất thải trong ao.

- Lam giảm sự biến động của nhiệt độ nước.

- Tạo thức ăn tự nhiên và động vật đáy ao là nguồn thức ăn rất tốt cho tôm khi mới thả.

Mặc dù tảo phát triển tốt thường có lợi cho ao nuôi, nhưng trong ao nuôi  thay nước ít còn có thể gặp rắc rối do tảo phát triển quá mức vì các chất dinh dưỡng tích luỹ trong ao. Trong những ao này, người nuôi thường sử dụng phân bón để gây màu ít đi nhằm hạn chế tảo phát triển quá mức trong giai đoạn đầu vụ nuôi. ở những ao nghèo dinh dưỡng hơn thì có thể bón thêm phân hữu cơ hay vô cơ để kích thích tảo phát triển.

Tốt nhất nên bón phân, chất gây tảo nhiều lần, không nên bón nhiều cùng một lúc mà phải chia nhỏ ra và nên bón vào lúc 9 –10 giờ sáng để có thể điều chỉnh lượng chất gây tảo phù hợp và để tảo dễ phát triển hơn. Nêu bón quá mức sẽ kích thích tảo phát triển mạnh, phát triển quá mức dễ dẫn đến hiện tượng tảo chết đột ngột, pH tăng cao đột ngột.

Sau vài ngày bón chất gây tảo thường tảo sẽ phát triển trong ao và nước sẽ có màu xanh lá cây nhạt. ở những vùng nước quá trong hoặc phần lớn phiêu sinh vật bị diệt bằng Chlorine khi xử lý nước, tảo sẽ không phát triển kịp trong vài ngày. Cũng có khả năng là do tảo tàn nên trong ao không còn đủ lượng tảo để có thể gây màu trở lại. Trong những trường hợp như vậy, nên cấp một ít nước đã gây màu từ các ao khác và cách làm này chỉ nên áp dụng như là giải pháp cuối cùng và chú ý là ao lấy nước phải có màu và chất lượng nước tốt.

Bón phân bổ sung có thể cần đối với những ao nuôi có dinh dưỡng thấp ví dụ như ao nuôi trên vùng cát. Có thể bón bổ sung từ 5-10% phân so với lượng trung bình. Bón phân là nhằm cung cấp dinh dưỡng cho phiêu sinh vật phát triển. Nếu phiêu sinh vật không phát triển và nước vẫn trong trong suốt quá trình lấy nước thì không nên bón phân nữa. Bón thêm phân nếu sinh vật không phát triển sẽ chỉ kích thích tảo đáy phát triển mà thôi. Trong trường hợp này nên dùng dây xích cào đáy nhằm tránh tảo đáy phát triển đồng thời nhờ việc cào đáy giúp quá trình phân hủy vật chất hữu cơ và tạo điều kiện thuận lợi cho phiêu sinh thực vật phát triển, vịêc làm này đặc biệt hữu ích với các ao nuôi vùng đất cát, ao xử lý nước bằng Chlorin.  ở hầu hết các hệ thống ao nuôi, không thay nước trong tháng đầu tiên sau khi thả tôm là cách hạn chế bón phân bổ sung.

Có một số ao nuôi đã thử dùng thuốc tạo màu để tạo màu giả nhằm hạn chế sự phát triển của tảo. Mặc dù những sản phẩm này có thể ngăn chặn sự phát triển của tảo đáy nhưng chúng lại không có được các ưu điểm như các ao có phiêu sinh thực vật phát triển tốt. Tuy nhiên chúng có thể có ích trong một thời gian ngắn khi phiêu sinh thực vật chưa phát triển kịp. Nồng độ thuốc tạo màu sử dụng phải được cân nhắc sao cho chúng có thể tạo màu để hạn chế được tảo đáy mà lại không ảnh hưởng đến sự phát triển của phiêu sinh thực vật. Khi sử dụng thuốc tạo màu, phải tránh sử dụng vôi và các  hoá chất khác vì chúng có thể làm kết tủa thuốc (mất tác dụng của thuốc tạo màu).

Sau khi lấy nước vào ao và trước khi thả giống, có thể bón thêm vôi nông nghiệp hay vôi đen (Dolomite) cho ao. Mục đích của việc này là duy trì pH trong khoảng từ 7.5 –8.3 và mức biến động không quá 0,5 đơn vị hằng ngày. Lượng vôi bón tuỳ thuộc vào điều kiện của từng ao nhưng thường là 100kg vôi nông nghiệp hay Dolomite/ha/ngày. Nếu pH nước ao dưới 7.5 nên bón thêm vôi tôi (Ca(OH)2) với lượng tương đương.

Có thể tóm tắt các bước tiến hành chuẩn bị ao nuôi như sau:

          Ao trước khi đưa vào nuôi, tiến hành cày, làm phẳng đáy ao, bón vôi từ 500 –800 kg/ha nếu chất đáy là bùn, bùn cát, chất đáy bị nhiễm phèn; đối với chất đáy là cát thì không cần rải vôi (nhằm tránh trường hợp pH cao trong giai đọan trước và ở tháng đầu khi thả tôm). Tiến hành bơm nước vào ao và rửa ao từ 2 –3 lần, nước rửa ao tốt nhất là nước ngọt.

          Sau khi làm phẳng ao tiến hành lắp đặt hệ thống quạt nước, hệ thống quạt nước phải đảm bảo cung cấp đủ ôxy cho tôm, và lắp đặt theo nguyên tắc khi vận hành cho dòng chảy mạnh nhất, điều hòa nhất, tạo được vùng đáy ao sạch/diện tích vùng dơ là cao nhất.

          Sau khi rửa ao và làm phẳng ao tiến hành bơm nước qua túi lọc bằng vải Katê, khi mực nước trong ao đạt từ 0,7 m trở lên tiến hành cào đáy bằng dây xích mỗi ngày 4 –6 giờ nhằm tránh tảo đáy phát triển, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho tảo phát triển. Khi mực nước trong ao đạt 1,2 trở lên tiến hành xử lý mầm bệnh bằng một trong các lọai thuốc/ hóa chất như: Chlorin 30 ppm, thuốc tím 4 – 6 ppm, Iodin 1-1,2 ppm,... sau đó 2 –3 ngày tiến hành gây màu nước bằng các phương pháp thông thường. Sau khi gây màu nước, độ trong đạt từ 40 – 45 cm, tiến hành kiểm tra các yếu tố môi trường nếu đạt yêu cầu thì tiến hành thả giống. Trong trường hợp các yếu tố môi trường không đáp ứng tiêu chuẩn thả giống thì phải tiến hành xử lý cho đến khi điều kiện môi trường đáp ứng tiêu chẩn thả giống thì mới tiến hành thả giống.

4, Chọn giống và thả giống.

          Mục đích của việc chọn giống và thả giống là đưa vào ao một lượng tôm giống phù hợp và có chất lượng tốt nhằm đạt được năng suất ổn định nhất.

Việc chọn con giống có ý nghĩa quan trọng, quyết định phần lớn đến kết qủa nuôi, hiện nay do có rất nhiều nguồn giống khác nhau, chất lượng cũng rất khác nhau, nên khi chọn con giống đưa vào nuôi cần chú ý một số yêu cầu sau:

- Giống có màu sắc sáng đẹp, kích cỡ tương đối đồng đều.

- Kích cỡ tôm khi thả phải đạt: Pl 12 trở lên.

- Tôm không nhiễm mầm bệnh.

- Giống có nguối gốc Hawaii, mua tại những công ty có uy tín, có chứng nhận xuất xứ nguồn giống, chứng nhận được con giống được sản xuất bằng nguồn bố mẹ SPF hay SPR (sạch bệnh hoặc kháng bệnh).

          Thả giống: Việc thả tôm chân trắng cũng tương tự như tôm sú, tuy nhiên điểm khác ở đây là mật độ nuôi, do thời gian nuôi ngắn (trung bình 3,0 tháng) và kích cỡ thu họach nhỏ (từ 60 –100 con/kg) do đó để nuôi đạt hiệu quả cao cần thả nuôi mật độ từ 100 – 150 con/m2. tuy nhiên việc quyết định thả nuôi với mật độ bao nhiêu còn tuỳ thuộc vào các yếu tố như:

- Điều kiện môi trường tự nhiên vùng nuôi (ví dụ đặc điểm về thổ nhưỡng, chất lượng nước, khí hậu).

  • Sự sẵn có, chất lượng và giá thành thức ăn.
  • Sự sẵn có, chất lượng và giá con giống
  • Số ao nuôi có trong khu vực (liên quan đến chất lượng nguồn nước).
  • Kiểu thiết kế và cấu trúc ao
  • Trang thiết bị
  • Những biến đổi theo mùa (điều kiện khí hậu thời tiết).
  • Cỡ tôm thu hoạch dự kiến
  • Kinh nghiệm của người quản lý

5, Thức ăn và phương pháp cho ăn

          Hiện nay, trên thị trường đã có thức ăn chuyên dùng cho tôm chân trắng, do vậy trong quá trình nuôi tôm chân trắng chúng ta nên sử dụng thức ăn này để nuôi tôm chân trắng, cũng có thể sử dụng các lọai thức ăn lọai cho tôm sú để nuôi tôm chân trắng nhưng cần lưu ý một số điểm sau: chỉ chọn những lọai thức ăn nào có độ đạm không cao (thấp hơn 38%) và nên rút ngắn thời gian hết sàng so với khi cho ăn bằng thức ăn chuyên dùng cho tôm chân trắng khoảng 15 –30 phút.

          * Phương pháp cho ăn - quản lý cho ăn:

          Quản lý cho ăn là một trong những khâu quan trọng nhất để nuôi tôm thành công, vì thức ăn là một trong những thứ đầu tư cao nhất. Chi phí thức ăn chiếm khoảng 45 –50% chi phí sản xuất đối hệ thống nuôi thâm canh, bán thâm canh. Mục tiêu của nghề nuôi tôm là phải bền vững và khả năng lợi nhuận cao nhất. Tuy nhhiên, không phải lúc nào cũng nghĩ đến việc cho ăn để được sản lượng tối đa. Chẳng hạn nếu không trao đổi được nước cho ao nuôi thì có thể giảm khẩu phần cho ăn để lưu giữ tôm chờ tới khi giá cã khá hơn. Cho ăn dư không những gây lãng phí thức ăn mà góp phần làm ô nhiễm ao nuôi. ở mô hình nuôi năng suất thấp, người nuôi thường hạn chế cho ăn để giảm giá thành và tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên trong ao.

* Xác định lượng thức ăn mỗi ngày

          Phương pháp xác định lượng thức ăn hàng ngày chủ yếu có mấy cách như sau:

          - Căn cứ vào số lượng tôm và trọng lượng tôm để tính ra lượng thức ăn hằng ngày, theo công thức sau:

          Tổng trọng lượng tôm = trọng lượng trung bình X số tôm (số tôm thực tế trên cơ sở số lượng giống thả và ước lượng tỷ lệ sống theo thời gian nuôi)

          Căn cứ vào trọng lượng trung bình và tổng trọng lượng tôm xác định được lượng thức ăn hằng ngày: trong tình trạng bình thường, tôm cỡ 1-5g, cho ăn bằng 7-10% trọng lượng thân; tôm 5-10, cho ăn 4-7% trọng lượng đàn tôm; tôm 10-20 g, cho ăn 3-4% trọng lượng thân.

          - Thời gian và lượng thức ăn thả mỗi lần

          Theo đặc điểm của tôm chân trắng thì tôm chân trắng có tập tính kiếm ăn và ban đêm là chủ yếu, tuy nhiên trong nuôi nhân tạo thì cho thấy tôm ăn thường xuyên cả ngày lẫn đêm, tuy nhiên khi nuôi với hình thức thâm canh thì vào giai đoạn tôm lớn (sau 2 tháng nuôi) thì môi trường ao nuôi dễ bị ô nhiễm, lượng ô xy hoà tan thường thấp, tôm thường lột xác đồng loạt vào ban đêm nên vào giai đoạn này tôm thường ăn chậm vào ban đêm (không phải do tập tính mà do điều kiện môi trường chi phối). Do vậy trong giai đoạn này chúng ta cần lưu ý tập trung cho tôm ăn vào ban ngày, ban đêm chỉ cho ăn 01 lần và lượng thức ăn cũng nên chỉ bằng 30 -50 % so với lượng thức ăn cho ăn mỗi lần vào ban ngày.

          * Phương thức cho ăn:

          Tôm chân trắng trong ao không bơi thành đàn để tìm thức ăn mà tìm ăn rải rác trên mặt bờ (bãi) ao. Vì thế, cơ bản là phải rải thức ăn đều khắp ao.

          Trong giai đoạn tháng đầu thả nuôi, khả năng hoạt động cuả tôm còn kém, sự phân bố trong ao chưa đều đặn, do cá thể khá nhỏ, lượng thức ăn rất ít, chủ yếu dựa vào thức ăn tự nhiên có trong ao để sinh trưởng. Thức ăn tự nhiên trong ao không đủ, cần bổ sung thêm thức ăn công nghiệp, cần phải quan sát tỉ mỉ trạng thái tôm, sự phân bố cuả tôm để điều chỉnh lượng cho ăn và cách cho ăn phù hợp (quan sát màu phân, đường ruột, tôm phát triển nhanh hay chậm,…). Làm như vậy tôm con vừa ăn được thức ăn, chất lượng nước không bị ô nhiễm. Khi tôm càng lớn phạm vi cho tôm ăn càng rộng ra. Khi tôm đạt 4-5cm, lượng thức ăn rải quanh bờ khoảng 60% và 40% rải phần tiếp giáp với giữa ao. Khi tôm đạt 6-7cm, tôm đã phân bố gần như đều khắp ao, khả năng hoạt động mạnh  do vậy lượng thức ăn rải gần như khắp ao. Tuy niên do ảnh hưởng cuả dòng chảy nên khu vực giữa ao sẽ gom tụ chất thải nên khi cho ăn cần đảm bảo diện tích vùng cho ăn là lớn nhất song phải tránh vùng gom tụ bùn trong ao.        

5.1 Cho tôm ăn trong tháng đầu.

          Khẩu phần ăn của tôm tính theo phần trăm trọng lượng thân sẽ giảm dần trong chu kỳ nuôi, vì càng lớn tôm ăn thức ăn với khẩu phần ăn càng thấp hơn. Nghĩa là khẩu phần ăn của tôm mỗi ngày so với thể trọng của nó sẽ giảm dần.

          Lượng thức ăn cho tôm ăn trong tháng đầu được căn cứ vào mức tăng trọng hằng ngày cuả tôm. nếu tôm thả nuôi từ PL12 thì định lượng lượng thức ăn ban đầu là 1,5 - 2,0kg/100.000 con (tuỳ vào lượng thức ăn tự nhiên có trong ao) và mức tăng thức ăn hàng ngày được tính theo bảng sau:

Bảng 3: ước lượng thức ăn tháng đầu

Giai đoạn tôm

Lượng thức ăn tăng hàng ngày cho 100.000 con tôm (g)

Tỷ lệ sống ước lượng

Năng suất thấp

Năng suất cao

Tuần 1

200

200 -300

100

Tuần 2

250

300-350

100

Tuần 3

300

350 -400

100

Tuần 4

350

400

>95%

          Đến tuần thứ 2 bắt đầu thả sàng và tập cho tôm vào sàng, sang tuần thứ 4 việc điều chỉnh thức ăn dựa vào thức ăn trong nhá còn hay hết để điều chỉnh.

          Số lần cho ăn: 3- 4 lần/ngày, 4lần vào các thời điểm: 7h, 11h, 16h và 21h;

Bảng 4: chương trình sử dụng thức ăn nuôi tôm chân trắng hiệu Hi - Po (có giá trị tham khảo)

Chương trình cho ăn tháng đầu tiên (100.000 con)

Tuổi tôm (ngày)

Tổng thức ăn sử dụng trong ngày (kg)

Lượng thức ăn tăng lên trong ngày (kg)

Tổng lượng thức ăn đã sử dụng (kg)

Mã số thức ăn

1

2

 

2

01

2

2.3

0.3

4.3

01

3

2.6

0.3

6.9

01

4

2.9

0.3

9.8

01

5

3.2

0.3

13.0

01

6

3.5

0.3

16.5

01

7

3.8

0.4

20.3

01+02

8

4.2

0.4

24.5

01+02

9

4.6

0.4

29.1

01+02

10

5.0

0.4

34.1

01+02

11

5.4

0.4

39.5

02

12

5.8

0.5

45.3

02

13

6.3

0.5

51.6

02

14

6.8

0.5

58.4

02

15

7.3

0.5

65.7

02

16

7.8

0.5

73.5

02

17

8.3

0.6

81.8

02

18

8.9

0.6

90.7

02

19

9.5

0.6

100.2

02

20

10.1

0.6

110.3

02

21

10.7

0.6

121.0

02+03

22

11.3

0.7

132.3

02+03

23

12.0

0.7

144.3

02+03

24

12.7

0.7

157.0

02+03

25

13.4

0.7

170.4

02+03

26

14.1

0.7

184.5

03

27

14.8

0.8

199.3

03

28

15.6

0.8

214.9

03

29

16.4

0.8

231.4

03

30

17.2

0.8

248.5

03

 

Bảng thức ăn này có lẽ sẽ là khá cao nếu như tôm trong ao không phát triển như dự định. Do vậy đây chỉ là bảng thức ăn mang tính chất tham khảo nhiều hơn, vấn đề quan trọng là người nuôi tôm phải biết quan sát tỉ mỉ tình trạng tôm, thức ăn tự nhiên trong ao để có những điều chỉnh phù hợp.

          Bảng 5: Lượng thức ăn trong một ngày tính theo trọng lượng tôm (đối với thức ăn hiệu Hi-Po) như sau: (có giá trị tham khảo)

Tuổi tôm (ngày)

Trọng lượng tôm (g/con)

% thức ăn/trọng lượng

Mã số thức ăn

Tỷ lệ thức ăn bỏ trong vó (g/1 kg thức ăn)

Thời gian kiểm tra vó

Số lần cho ăn/ngày

1

-

Theo chương trình cho ăn tháng đầu tiên

01

-

-

4

10

-

01+02

-

-

4

20

-

02

1

2.5

4

30

2.5

7.0

03

1

2.5

4

40

3.5

5.0

03+03-p

1

2.5

4

50

5.0

4.0

03-p

1

2.5

5

60

7.5

3.5

03-p+04-p

1

2.5

5

70

9.5

3.3

04-S

2

2.0

5

80

12.0

3.0

04-S

2

2.0

5

90

15.0

2.8

04-S+04

2

2.0

5

100

17.5

2.5

04

3

2.0

5

110

20.0

2.3

04+05

3

2.0

5

120

22.0

2.1

04+05

3

2.0

5

130

25.0

2.0

05

3

2.0

5

1. Lượng thức ăn trong ngày (TATN)

                             % thức ăn

TATN (kg)  =                           x Trọng lượng đàn tôm (kg)

                                  100

2. Thức ăn trong một sàng (g)

Thức ăn trong bữa (kg) x % sàng x 16.000

                                      Diện tích ao (m2)

         

Ghi chú :

- Khi tôm được 10 ngày tuổi nên thả sàng vào ao nuôi để tôm làm quen.

- Việc bỏ thức ăn trong sàng nên căn cứ vào trọng lượng tôm và kiểm tra sàng một cách chặt chẽ.

- Việc chuyển đổi mã số thức ăn nên căn cứ vào trọng lượng tôm để làm tiêu chuẩn (theo bảng) không dựa vào tuổi tôm (ngày).

- Giai đoạn tôm từ 1 đến 50 ngày tuổi cho tôm ăn 4 lần/ngày vào các thời điểm 7, 11, 16 và 21 giờ.

- Giai đoạn tôm từ 50 ngày tuổi trở đi cho tôm ăn 5 lần/ngày vào các thời điểm 6, 10, 14, 18 và 22 giờ.

- Trong thời gian chuẩn bị chuyển đổi mã số thức ăn, nên trộn chung cả hai loại thức ăn để sử dụng ít nhất 3 ngày.

- Khi tôm được 50 ngày tuổi, nên chài kiểm tra tôm cứ 5 - 7 ngày một lần để kiểm tra tỷ lệ tăng trưởng của tôm có đạt tiêu chuẩn không và tình trạng tôm.

- Chất lượng nước, nhiệt độ, hàm lượng ôxy hòa tan và chu kỳ lột xác … cũng ảnh hưởng đến cường độ bắt mồi của tôm.

- Đối với tôm chân trắng: khi cho ăn chỉ nên bổ sung thêm Vitamin C và men đường ruột vào thức ăn mà không cần bổ sung thêm bất kỳ thuốc bổ, thức ăn bổ sung nào khác vào thành phần thức ăn.

5.2 sàng ăn 

Sử dụng sàng ăn là rất quan trọng để kiểm tra việc cho ăn. Sàng ăn phản ánh khả năng sử dụng thức ăn, sức khoẻ và tỷ lệ sống của tôm và cả điều kiện nền đáy ao.

Sàng ăn thường là một tấm lưới mịn với một khung có gờ cao không quá 5 cm. Diện tích sàng ăn thường 0,4 -0,5m2 đối với sàng hình tròn (đường kính 70 -80 cm) và 0,64 m2 đối với sàng hình vuông (cạnh 0,8 x 0,8cm). Số lượng sàng ăn khoảng 01 cái cho 1.600 m2. sàng ăn nên đặt sát đáy ao, nơi sạch sẽ, nước chảy không quá mạnh và hơi xa bờ.

Trong tháng đầu bổ sung thêm sàng ăn vào giữa ao nếu tôm tập trung giữa ao. Thức ăn cần làm ẩm, cho vào sàng và hạ từ từ xuống đáy ao. Nếu làm không cẩn thận khi hạ sàng ăn thì hầu hết thức ăn có thể bị trôi ra khỏi sàng ăn trước khi sàng xuống tới đáy ao. Nên thường xuyên rửa các sàng ăn để chúng chìm xuống nhanh chóng.

Bảng 6: Số lượng sàng ăn tính theo cỡ ao như sau:

Kích cỡ ao (ha)

Số sàng ăn

0,5

4

0,6 -0,7

5

0,8-1

6

2

10 -12

 Cho khoảng 20 -30g thức ăn vào mỗi sàng ăn ở mỗi lần cho ăn trong tháng đầu (khoảng 1% lượng thức ăn cho ăn vào mỗi sàng cho ăn), tháng thứ 2, 3 lượng thức ăn cho vào mỗi sàng khoảng 2% (ví dụ khi cho ăn 10 kg/lần, thì mỗi sàng cho ăn bỏ vào 200g). Thời gian kiểm tra sàng ăn khi tôm đạt từ 2 -5 gam/con là 2,0 - 2,5 giờ, từ 5 -7g/con là 1,5 -2,0 giờ, từ 8 g/con đến thu hoạch là từ 1-1,5 giờ. Căn cứ vào lượng thức ăn còn, hết mà điều chỉnh lượng thức ăn vào lần cho ăn kế tiếp.

* Các yếu tố ảnh hưởng đến sàng ăn:

Việc ước lượng chính xác tỷ lệ sống của tôm có thể đạt được vào cuối tháng thứ 2 sau khi thả giống bằng cách lặp lại nhiều lần việc tính toán tỷ lệ sống. Có một số yếu tố khác ngoài tỷ lệ sống có ảnh hưởng đến việc tôm sử dụng thức ăn trong sàng, các yếu tố ảnh hưởng chính là:

          - Chất lượng nước giảm

          - Điều kiện nền đáy ao xấu

          - Bệnh

          - Các sinh vật canh tranh xuất hiện trong ao

          - Chất lượng thức ăn

          - Chu kỳ lột xác

          - Nhiệt độ và độ măn

Tất cả những điều kiện này cùng với những yếu tô khác có thể làm giảm sức ăn cuả tôm từ ngày này sang ngày khác. Vì vậy, điều quan trọng là phân biệt được tỷ lệ sống hay các yếu tố nào khác đã ảnh hưởng đến việc sử dụng thức ăn của tôm.

* Sự suy thoái chất lượng nước:

bất kỳ sự suy giảm nào về chất lượng nước cũng có thể làm giảm sức ăn của tôm, ví dụ:

- Sau khi phiêu sinh thực vật suy tàn làm ôxy hoà tan giảm và sinh ra nhiều chất thải cuả quá trình phân huỷ.

- Sau thời gian dài không thay nước.

- Sau những cơn mưa lớn làm tăng độ đục và giảm pH nước ao.

- Sau một thời gian dài nắng yếu làm giảm cường độ quang hợp cuả tảo dẫn đến lượng ôxy hoà tan thấp.

Khi bất kỳ một trong các trường hợp kể trên xảy ra sẽ làm giảm sức ăn cuả tôm và làm suy giảm đáng kể chất lượng nước. Giảm lượng thức ăn sử dụng, sẽ không làm tăng được khả năng sử dụng thức ăn của tôm mà tốt hơn nên cải thiện chất lượng nước trừ khi phần lớn tôm trong ao đã chết.

* Nền đáy ao xấu đi

Sự xấu đi cuả nền đáy ao có thể dẫn đến chất lượng nước kém và gây bệnh cho tôm. Tuy nhiên, nó cũng gây ra các ảnh hưởng trực tiếp. Nếu như phần diện tích sạch ở đáy ao giảm sẽ làm tăng số lượng tôm đến sàng ăn và tôm ăn hết thức ăn trong sàng nhanh hơn. Cũng có thể có trường hợp ngược lại, nếu các sàng ăn đặt ở nơi dơ bẩn trong ao thì số tôm đến sàng ăn cũng sẽ giảm.

Thường có nhiều dấu hiệu khác xuất hiện trên tôm cũng cho biết chất lượng nước xấu như màu sắc bất thường ở mang, vỏ bẩn, phồng đuôi, ăn lẫn nhau và phụ bộ bị thương. Nếu có nghi ngờ về sự xấu đi của nền đáy ao thì nên lội khăp ao để xem chất lượng chất thải tích tụ và sự phân bổ cuả chúng ra sao.

* Bệnh:

Sự bùng nổ dịch bệnh nghiêm trọng thường có liên quan tới sự xấu đi về các điều kiện chất lượng nước và nền đáy. Trong hầu hết các trường hợp sẽ thấy thêm các dẫn liệu về tình trạng sức khoẻ tôm kém đi, chẳng hạn, tôm nổi lên mặt ao hay tập trung quanh bờ. Kiểm tra bên ngoài tôm hay phân tích ở phòng thí nghiệm sẽ giúp tìm ra nguyên nhân của bệnh.

Giảm lượng cho ăn có thể không làm tăng mức độ sử dụng thức ăn trong các sàng, mà một số trường hợp việc cải thiện chất lượng nước có thể mang lại hiệu quả tốt hơn.

* Sinh vật canh tranh trong ao:

- Trước đây người ta thường thấy nhiều loại sinh vật khác cùng chung sống với tôm nuôi trong ao như ghẹ, những loài tôm khác, cá và nhuyễn thể. Sự hiện diện cuả các sinh vật này hiện không còn phổ biến trong ao nuôi tôm do người nuôi tôm đang cố gắng hạn chế khả năng chúng mang mầm bệnh vào ao nuôi tôm. Nếu có các sinh vật khác xuất hiện trong ao, chúng còn sử dụng thức ăn của tôm làm cho người nuôi nhầm tưởng là cho tôm ăn thiếu. các sinh vật cạnh tranh còn có thể ăn tôm dẫn đến tỷ lệ sống của tôm thấp.

* Chất lượng thức ăn

Có nhiều vấn đề liên quan đến chất lượng thức ăn có tác động đến sự sử dụng thức ăn trong sàng ăn. nếu người nuôi thay đổi loại thức ăn và kết cấu thức ăn khác thường thì tôm phải mất vài ngày để làm quen với loại thức ăn mới và hậu quả là người nuôi dễ bị nhầm lẫn khi quan sát sàng ăn. Nếu thức ăn không hấp dẫn tôm thì chúng sẽ không ăn thức ăn như thường lệ.

* Chu kỳ lột vỏ

Sự tiêu thụ thức ăn cuả tôm thực sự giảm vào những ngày trước và sau lột vỏ. Mặc dù tôm trong ao không thường lột vỏ đồng loạt nhưng thỉnh thoảng cũng xảy ra (ví dụ khi thay nước, khi có biến động môi trường). Trong hệ thống nuôi năng suất thấp, tôm thường lột xác tập trung vào lúc trăng tròn và thường trùng vào thời điểm thay nước nhiều nhất. Trong trường hợp này tôm sẽ ăn bình thường sau khi lột vỏ và cũng có các dấu hiệu khác là có tôm mềm vỏ trong ao và có vỏ tôm trong ao. Có nhiều người nuôi cho tôm ăn 60% lượng thức ăn khi thấy tôm lột xác đồng loạt trong ao. Sự thay đổi lượng thức ăn phải dựa vào các dẫn liệu thu từ sàng cho ăn.

* Nhiệt độ

Nhiệt độ cũng có ảnh hưởng đến bắt mồi cuả tôm. nếu nhiệt độ cao hơn 32 -33oC hay thấp hơn 22OC thì mức độ bắt mồi có thể giảm 30 -50%. Nhiệt độ thay đổi đột ngột sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến tôm hơn là thay đổi từ từ.

6, Chăm sóc quản lý

6.1, Một số yếu tố thủy lý - thủy hóa trong môi trường ao nuôi có liên quan mật thiết đối với tôm.

          Muốn quản lý một ao nuôi tôm có hiệu qủa cần phải có những thông tin đặc trưng về các yếu tố môi trường như : Nhiệt độ, độ mặn, pH, độ kiềm, độ trong, màu nước, ôxy hòa tan...với các số liệu đo hàng ngày và sự biến đổi của nó trong ao nuôi.

a, Nhiệt độ:

          Nhiệt độ có ảnh hưởng trực tiếp đến qúa trình trao đổi chất bên trong cơ thể tôm, ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sự lột xác, liên quan đến khả năng bắt mồi và sự sinh trưởng của tôm. Nhiệt độ tối ưu cho tôm sinh trưởng từ 28 - 320C, nếu nhiệt độ cao hơn 330C hoặc thấp hơn 220C khả năng bắt mồi của tôm giảm đi 30 - 50%. Để khắc phục được sự ảnh hưởng của nhiệt độ nước, biện pháp kỹ thuật tốt nhất là nâng cao mực nước trong ao từ 1,2 m trở lên.

          b, Độ mặn:

          Tôm chân trắng có thể chịu đựng được sự biến thiên độ mặn rất lớn, chúng có thể thích nghi được với độ mặn từ 0,5- 450/00. Độ mặn thích hợp nhất cho tôm nuôi phát triển từ 10 -250/00. Tôm chân trắng có thể điều tiết được độ mặn trong một giới hạn nhất định, nhưng nếu thay đổi qúa đột ngột thì chúng rất dễ bị nhiễm bệnh và chết.

          c, pH:

          pH là chỉ tiêu cho biết qúa trình sinh học và hóa học xảy ra trong ao nuôi, nó là một chỉ thị quan trọng đánh gía chất lượng nước. pH thích hợp cho tôm dao động từ 7,5 -8,8.  pH < 6 hoặc > 9,5 sẽ gây ảnh hưởng đến sinh trưởng của tôm. Sự biến động của pH hàng ngày trong ao phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển của tảo. Vào thời điểm 14 -16 giờ trong ngày cường độ quang hợp của tảo mạnh  giá trị của pH đạt cao nhất, Vào ban đêm khi không có ánh sáng mặt trời giá trị pH xuống thấp nhất. Khi pH trong ao quá cao, tức là tảo phát triển quá mạnh, khi đó cần phải có biện pháp khống chế tảo để tránh tảo phát triển qúa mức sẽ bị tàn nhanh làm ô nhiễm ao nuôi. Khi pH xuống thấp chứng tỏ tảo phát triển kém, cần cung cấp dinh dưỡng cho tảo phát triển.

          d, Ôxy:

          ¤xy là một yếu tố rất cần thiết cho hoạt động hô hấp của tôm và các sinh vật sống trong ao. Nếu ôxy thiếu tôm sẽ có biểu hiện giảm ăn, chậm lớn, mang tôm có màu hồng. Nếu tình trạng thiếu ôxy kéo dài tôm sẽ bị nổi đầu chết hàng loạt. Hiện nay thiết bị dùng để cung cấp ôxy hòa tan trong ao đó là các loại máy quạt nước, máy thổi ôxy đáy. Tuỳ theo mật độ thả nuôi, thời gian nuôi mà có biện pháp bố trí và vận hành máy quạt nước cho phù hợp đảm bảo cung cấp đầy đủ ôxy trong ao, vừa giảm được chi phí sản xuất ôxy hòa tan trong ao còn liên quan mật thiết đến sự  phát triển của tảo, hàm lượng các chất hữu cơ trong ao. Khi tảo phát triển tốt vào ban ngày do quá trình quang hợp sẽ cung cấp một lượng lớn ôxy hòa tan trong ao, vào ban đêm tảo lại sử dụng ôxy cho qúa trình hô hấp, do đó ôxy thường giảm thấp vào ban đêm nên cần tăng cường các loại máy cung cấp ôxy ở những thời điểm này. Cung cấp đầy đủ ôxy trong ao còn tạo điều cho các vi sinh vật có lợi phát triển thúc đẩy qúa trình phân hủy các chất hữu cơ làm sạch đáy ao.

          đ, Độ trong - màu nước:

          Độ trong - màu nước là hai yếu tố có liên quan đến sự phát triển của tảo, nó  chi phối đến nhiều yếu tố như : nhiệt độ nước, pH, ôxy hòa tan...do đó thực chất của qúa trình điều khiển môi trường là điều kiển hai yếu tố độ trong và màu nước. Độ trong phù hợp nhất cho tôm phát triển từ 25 - 40cm. Khi độ trong cao >40cm chứng tỏ tảo trong ao phát triển chậm, cần cung cấp thêm dinh dưỡng cho tảo phát triển. Nếu độ trong thấp < 25cm tảo phát triển qúa mạnh sẽ làm cho pH tăng cao, ôxy giảm vào ban đêm, và dễ có nguy cơ tảo tàn hàng loạt gây ô nhiễm môi trường, do đó cần có biện pháp khống chế sự phát triển của tảo như thay nước, bón vôi...Ngoài ra hàng ngày cần theo dõi sự thay đổi của màu nước trong ao để đánh giá sự phát triển của tảo, từ đó có thể dự đoán được biện pháp xử lý trước khi có tình huống xấu xảy ra.

          Ngoài một số yếu tố cơ bản trên, trong nuôi tôm cũng cần theo dõi thêm một số yếu tố như : độ kiềm, hàm lượng khí NH3, khí H2S.  Chúng tôi xin giới thiệu bảng chỉ tiêu các yếu tố môi trường phù hợp trong nuôi tôm chân trắng như sau :

Bảng 7 : Một số chỉ tiêu phù hợp cho nuôi tôm chân trắng

Thông số môi trường

Giới hạn tối ưu

Đề nghị

Nhiệt độ

28 -320C

Dao động trong ngày < 50C

pH

7,8 - 8,5

Dao động trong ngày < 0,5

Độ mặn

10 - 25%o

Dao động trong ngày < 10/00

Ôxy hòa tan

4 - 7 mg/lít

Không được < 3mg/lit

Độ trong

25 - 40cm

30 –35 cm

Độ kiềm

80 - 200mg/lít

 Tùy thuộc vào tuổi tôm

Khí H2S

< 0,02mg/lít

Độc hơn khi pH thấp

Khí NH3

< 0,1 mg/lít

Độc hơn khi pH và nhiệt độ cao

6.2, Quản lý môi trường

          - Quản lý môi trường ao nuôi: Thường xuyên sử dụng các lọai vôi (vôi toi, super can xi, Dolomite) và men vi sinh để ổn định pH, độ kiềm, màu tảo, không sử dụng thuốc hóa chất trong quá trình xử lý môi trường ao nuôi tôm chân trắng. Ao nuôi tôm chân trắng thường xảy ra hiện tượng độ kiềm tụt đột ngột do tôm lột xác đồng lọat, do vậy cần thường xuyên sử dụng các lọai vôi để xử lý môi trường ao nuôi vào ban đêm, tốt nhất cứ mỗi 2-3 ngày nên tạc vôi một lần.

          - Chế độ quạt nước: đối với ao nuôi tôm chân trắng cần tăng cường chế độ quạt nước và quạt nước mạnh hơn so với tôm sú nhằm đáp ứng đủ nhu cầu ôxy cho tôm phát triển, chế độ quạt nước cụ thể như sau:

          - Để đảm bảo nhu cầu ôxy, cần phải lắp đủ số lượng cách quạt, vận hành đủ thời gian theo độ tuổi tôm và chạy quạt nước đủ mạnh, đủ thời gian.

          - Số cánh quạt cần thiết/10 vạn giống: từ 10 –15 cánh.

          - Số giờ chạy quạt theo thời gian nuôi như sau:

Bảng 8: Số giờ quạt nước theo thời gian nuôi:

Thời gian nuôi

Số giờ quạt nước

Thời gian quạt

Tháng thứ nhất

6

Sáng: 9 h-10h; chiều: 15 –16 h; tối: 19h-21h; Khuya: 3h-5h

Tháng thứ 2

12-14

Sáng: 9 h-11h; chiều: 14 –16 h; tối: 18h30-21h; Khuya: 23h-6h

Tháng thứ 3 đến thu họach

14-16

Sáng: 9 h-11h; chiều: 14 –16 h; tối: 18h-21h; Khuya: 22h-7h

          Thường xuyên theo dõi tình trạng tôm, tính ăn, các yếu tố môi trường để có biện pháp xử lý kịp thời.

          Cứ 7 ngày một lần tiến hành cân kiểm tra tăng trọng của tôm, nếu tôm có mức tăng trọng trung bình nhỏ hơn 0,15g/ngày cần phải kiểm tra các yếu tố liên quan để xác định nguyên nhân và có biện pháp xử lý thích hợp.

- Thay nước: Chủ yếu áp dụng nuôi theo qui trình bán thâm canh ít thay nước nhằm trách rủi do do mầm bệnh xâm nhập từ ngoài vào. Chỉ áp dụng thay nước khi nào thật cần thiết, như phải xử lý môi trường, chủ yếu là thêm nước, lượng nước thay hằng ngày từ 20-30%, nước trước khi thay hay thêm vào ao phải xử lý triệt để mầm bệnh tại ao chứa lắng và xử lý.   

6.3, Các biện pháp quản lý môi trường

a, Cấp và thay nước: Chế độ cấp và thay nước trong nuôi tôm bán thâm canh và thâm canh hiện nay thực hiện theo phương pháp nuôi tôm ít thay nước hoặc phương pháp tuần hoàn khép kín. Việc cấp và thay nước không theo một chế độ nhất định, phụ thuộc vào chất lượng nước trong ao nuôi và ngoài môi trường. Chỉ nên thay nước khi các yếu tố thuỷ hoá trong ao nằm trong khoảng không phù hợp cho tôm, đặc biệt khi dao động pH trong ngày quá lớn. Nước cấp trước khi đưa vào ao phải được lắng lọc ở ao chứa lắng, hoặc khi nguồn nước lấy vào có nguy cơ mang mầm bệnh thì phải xử lý bằng hóa chất trước khi cấp vào ao nuôi. Mỗi lần thay nước không nên thay vượt  quá 30% lượng nước trong ao.

b, Cần tăng cường độ sâu trong trong ao theo thời gian nuôi từ 1,0 - 1,4 m nhằm ổn định môi trường, tạo độ thông thoáng cho tôm, hạn chế sự phát triển của thực vật đáy.

          c, Sử dụng thường xuyên các loại vôi nông nghiệp có công thức CaCO3 định kỳ 7 - 10 ngày/lần với lượng 15 - 20 kg /1000 m2/lần  để tăng hệ đệm, ổn định pH, ổn định môi trường. Đặt biệt những ngày có mưa, thời tiết thay đổi cần tăng cường sử dụng loại vôi này.

          d, Đối với những ao tảo phát triển chậm, độ trong cao có thể sử dụng vôi nông nghiệp Dolomite với lượng 5 -10kg/1000m2/lần vào thời điểm 8 –9 giờ sáng. Còn đối với những ao khó gây màu, chất đáy nghèo dinh dưỡng, ngoài việc sử dụng Dolomite cũng cần tăng cường bón phân gây màu. Có thể sử dụng phân NPK bón với lượng 1,0 –1,5 kg/1000m2/lần.

          đ, Đối với những ao tảo phát triển quá mạnh, pH tăng cao trước hết cần thay một phần lượng nước trong ao sau đó áp dụng các biện pháp sau :

- Có thể sử dụng vôi tôi Ca(OH)2 xử lý ao với lượng 5 -7kg/1000m2/lần vào buổi tối lúc 21 –22 giờ.

- Dùng đường cát hòa tan vào nước tạt đều xuống ao với lượng 2 –3 kg/1000m2 vào lúc 9 -10 giờ sáng và mở máy sục khí mạnh.

          g, Đối với ao nuôi từ sau 2 tháng trở lên sử dụng định kỳ các loại khoáng chất  7-10 ngày / lần  với lượng 5 -10 kg/1000m2/lần  sẽ làm cải thiện được nền đáy ao, giảm thiểu các loại khí độc  giúp tôm lớn nhanh và phòng được một số bệnh do môi trường như : đen mang, phồng mang, vàng mang...  

          h, Sử dụng chế phẩm sinh học thường xuyên trong suốt vụ nuôi có tác dụng phân huỷ các chất hữu cơ, chất thải từ thức ăn thừa, phân tôm, kìm hãm sự phát sinh các khí độc NH3, H2S, tạo sự ổn định và cân bằng sinh thái môi trường ao nuôi.Chế phẩm sinh học còn có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh, tăng cường ôxy hoà tan.

i, Tăng cường quạt nước. Đây là biện pháp không thể thiếu trong quá trình nuôi. Máy quạt nước được bố trí và vận hành sao cho đạt hiệu quả cao nhất, vừa cung cấp đầy đủ ôxy vừa làm sạch đáy, gom các chất thải vào giữa ao, tạo độ thông thoáng đều trong ao.     

7, Phòng bệnh

          áp dụng biện pháp phòng bệnh chung dựa trên nguyên tắt quản lý tổng hợp các yếu tố: tác nhân gây bệnh, quản lý môi trường ao nuôi và tăng cường sức khỏe cho tôm, trong đó vấn đề quan tâm hơn cả là quản lý môi trường ao nuôi. các yếu tố môi trường đặc biệt là pH, pH: 7,5 –8,8, dao động trong ngày không quá 0,5; DO >4,0ppm; Độ kiềm: >80mg/l; Độ cứng từ 4000 – 5000mg/l.

8, Thu họach và tiêu thụ sản phẩm

          Với mật độ nuôi 80 -100 con/m2, sau thời gian nuôi từ 75-80 ngày, tôm nuôi có thể đạt trọng lượng từ 80 –100con/kg lúc này chúng ta có thể thu họach tòan bộ để tiêu thụ, trong trường hợp cần nuôi size tôm từ 70 –80 con/kg cần  phải giảm mật độ nuôi bằng cách thu bớt một phần, phần còn lại tiếp tục nuôi thêm một thời gian nữa để thu họach được sản lượng và hiệu quả ao hơn. Tuy nhiên cần chú ý rằng khi tôm đạt trong lượng 20g/con sẽ có tốc độ sinh trưởng chậm lại, do vậy không nên kéo dài thời gian nuôi tôm chân trắng khi đã đạt kích cỡ trung bình 20g/con.

9, Một số nhận xét

9.1, Những thuận lợi

- Bước đầu cho thấy tôm chân trắng thích nghi tốt ở vùng nuôi tôm trên cát An Hải, Ninh Phước.

- Kỹ thuật nuôi tương đối dễ dàng, người nuôi tôm sú có thể nắm bắt nhanh kỹ thuật nuôi tôm chân trắng sau 01 vụ nuôi.

- Thời gian cho một chu kỳ nuôi ngắn (2,5 tháng), chi phí đầu tư thấp hơn nuôi tôm sú. Giá thành 01 kg tôm dao động từ 32 –35.000đ/kg.

- Đã có thức ăn công nghiệp chuyên dùng cho tôm chân trắng sản xuất tại Việt Nam.

- Hiện nay, tôm chân trắng chủ yếu tiêu thụ nội địa nhưng giá cao hơn tôm sú từ 2000 – 3000đ/kg (tôm cùng kích cỡ). Các đại lý thu mua, chế biến tôm sú xuất khẩu có thể tham gia thu mua tôm chân trắng.

- ở nước ta một số cơ sở đã chủ động sản xuất được giống tôm chân trắng chất lượng cao như có thể sản xuất được với số lượng lớn, giá giống không cao được người nuôi chấp nhận, chất lượng con giống có thể kiểm soát được thông qua nhập con giống bố mẹ “sạch”và “kháng bệnh”. Hiện nay giá tôm giống dao động từ 30 -50đ/con tùy vào thời điểm và nhà cung cấp.

9.2, Một số hạn chế

 Tuy nhiên việc phát triển nuôi tôm chân trắng có thể gặp phải một số khó khăn sau:

+ Tôm chân trắng có mầm bệnh TSV, WSSV, YHV và IHHNV đặc biệt là bệnh do vi rút TSV gây ra.

+ Tôm chân trắng có kích cỡ nhỏ hơn tôm sú nên giá bán thấp và sức cạnh tranh trên thị trường thế giới sẽ thấp hơn tôm sú.

+ Thị trường tiêu thụ: Năng lực cạnh tranh về thị trường tiêu thụ tôm chân trắng của Việt Nam không có ưu thế hơn một số nước khác trên thế giới mà đặc biệt là Trung Quốc. Nên khi phát triển nuôi tôm chân trắng cần chú trọng thị trường trong nước, liên kết với các cơ sở tiêu thụ sản phẩm để ổn định giá bán.

* Có thể tóm tắt một số ưu và nhược điểm của tôm chân trắng so với tôm sú như sau:

Bảng 9: Một số ưu nhược điểm của tôm chân trắng so với tôm sú

Đặc điểm

Ưu điểm

Nhược điểm

Tăng trưởng

Tôm chân trắng tăng trưởng nhanh hơn tôm sú lúc còn nhỏ hơn 20g, tôm chân trắng có thể tăng trưởng 1,5g/tuần so với 1g/tuần ở tôm sú. Cỡ thu hoạch tôm chân trắng nhỏ hơn tôm sú.

Tôm chân trắng tăng trưởng chậm khi đạt trên 20g.

Mật độ nuôi

Tôm chân trắng có thể nuôi ở mật độ rất cao (60 -150 con/m2 và có thể đến 400 con/m2). Năng suất nuôi cao có thể đến 12 tấn/ha/vụ.

Nuôi mật độ cao phải quản lý tốt môi trường ao nuôi và có thể gặp nhiều rủi ro

Chịu đựng độ mặn

Tôm chân trắng chịu được độ mặn rộng (0,5 - 450/00) và có thể nuôi sâu vào trong vùng nước ngọt hơn so với tôm sú

Không

Chịu đựng nhiệt độ

Tôm chân trắng chịu đựng nhiệt độ thấp tốt (< 150C), vì thế có thể nuôi vào vụ Đông, vùng lạnh.

Không

Nhu cầu chất đạm

Tôm chân trắng có nhu cầu chất đạm thấp hơn (20 -35%) so với tôm sú (38 - 40%), hệ số thức ăn thấp khoảng 1,2 so với 1.6 của tôm sú vì thế có thể giảm đi chi phí sản xuất và thuận lợi hơn cho các hệ thống sản xuất kín (tuần hòan)

Không

Khả năng kháng bệnh

Mặc dù mẫn cảm với bệnh đốm trắng, nhưng tôm thẻ chân trắng được nghiên cứu đề kháng một số vi rút. Tỷ lệ sống của tôm chân trắng luôn cao hơn so với tôm sú nuôi ở Châu á

Tôm chân trắng có mầm bệnh TSV, WSSV, YHV, IHHNV. Tôm sú kháng với TSV và IHHNV

Cho đẻ và gia hóa

Tôm chân trắng có thể nuôi vỗ thành thục trong ao, tôm đã được gia hóa qua nhiều thế hệ và cải thiện về di truyền. Đã sản xuất được con giống SPF (sạch bệnh đặc thù) và SPR (kháng bệnh đặc thù), tôm bố mẹ rẻ,....

Thỉnh thoảng gặp trở ngại về tỉ lệ hao hụt cao của tôm SPF và tôm mẹ nuôi vỗ đòi hỏi kỹ thuật phức tạp nếu so với đánh bắt tôm sú ngòai tự nhiên

Ương ấu trùng

Tỉ lệ sống của tôm trong giai đoạn ương ấu trùng cao hơn tôm sú

Không

Thị trường

Thị trường tiêu thụ chủ yếu là Mỹ và thị trường nội địa ở các quốc gia Châu á đang gia tăng. Tỉ lệ thịt của tôm chấn trắng cao (66 - 68%) hơn so với tôm sú (62%)

Tôm sú nuôi có kích thước lớn hơn nên giá bán cao. Sẽ có cạnh tranh cao về thị trường vì tôm đang phát triển nuôi khắp thế giới.

 

Phần III

BỆNH TÔM

          Những trở ngại do bệnh đã gây thiệt hại rất lớn về tài chính trong nghề nuôi tôm biển nói chung. ít nhất từ 20 năm qua, đa số thừa nhận rằng, bệnh ở động vật xảy ra thường là do sự tương tác giữa vất chủ có tính mẫn cảm  trong điều kiện môi trường xấu, cùng với sinh vật gây bệnh có sẵn trong môi trường. Hiểu rõ nguyên nhân xuất hiện bệnh là điều kiện cần thiết để kiểm soát chúng.

          Trước hết chúng ta phải biết bệnh là gì?, vì sao chúng xuất hiện; phát hiện bệnh bằng cách nào và xử lý hay nói cách khác là phòng và trị bệnh bằng cách nào.

1, Bệnh là gì?

          Bệnh là sự bất thường nào đó trong cấu tạo hay chức năng cuả cơ thể động vật. Điều này có nghĩa bệnh không chỉ là yếu tố lây nhiễm mà còn gồm cả vất đề dinh dưỡng và môi trường làm ảnh hưởng đến năng suất. Trong nhiều trường hợp, từ “bệnh” được dùng một cách không chính xác khi chỉ được dùng để án chỉ những vấn đề  lây nhiễm.

2, Vì sao bệnh xuất hiện?

          Trong hầu hết các trường hợp, bệnh bộc phát là do sự kết hợp cuả nhiều yếu tố. Ngay cả khi bệnh truyền nhiễm bộc phát, thì nguyên nhân không phải chỉ đơn thuần là do sự hiện diện cuả vi khuẩn hay vi rút. Trên thực tế, sự hiện diện của mầm bệnh trong cơ thể tôm  không nhất thiết là tôm đang bị bệnh.

          Hầu hết bệnh ở tôm nuôi là sự kết hợp cuả các điều kiện môi trường xấu ma hậu quả là làm hại hoặc làm giảm khả năng kháng bệnh ở tôm. Hầu hết các ao nuôi luôi có sẵng những mầm bệnh lợi dụng cơ hội này để gây bệnh cho tôm. bệnh tôm thường do nhiều nguyên nhân kết hợp gây ra, nên việc phòng ngừa và xử lý bệnh nhất thiết phải được xem xét cả trên cơ thể tôm, mầm bệnh và môi trường nuôi.

          Xử lý bệnh phải đi đôi với việc cải thiện môi trường. Chỉ đơn thuần xử lý bệnh bằng hoá chất rất ít khi có hiệu quả. Ví dụ như bệnh vi khuẩn ở tôm xảy ra là do tôm bị tác động bất lợi cuả các yếu tố môi trường xấu. Nếu sử dụng kháng sinh để trị mà không cải thiện môi trường thì sẽ không có hiệu quả, vì chỉ những con tôm khoẻ mới bắt mồi khi thuốc được trộn vào thức ăn. Ngay cả trong trường hợp tôm nhận được thuốc kháng sinh để trị vi khuẩn gây bệnh trên tôm, thì hàm lượng thuốc giảm, tôm sẽ bị nhiễm bệnh trở lại.

3, Phát hiện bệnh

          Khi bệnh đã xuất hiện thì đã quá trễ để xử lý. Cho nên, điều cần thiết là phải quản lý ao nuôi một cách hiệu quả nhằm hạn chế tối đa cơ hội xuất hiện bệnh. Dấu hiệu bệnh thường được phát hiện trên một số ít tôm nuôi, vì thế, phải thường xuyên kiểm tra tôm để phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm nhất. Việc phát hiện ra bệnh rất khó khăn, trừ khi có hiện tượng tôm chết hàng loạt. Mục đích cuả công việc này là xác định được bệnh ở giai đoạn sớm nhất, nhằm có biện pháp kịp thời trước khi năng suất tôm nuôi bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Trong hầu hết các trường hợp, không thể phát hiện bệnh từ một mẫu tôm nào đó từ một trại nuôi cho dù có phân tích rất nhiều chỉ tiêu. Điều cần thiết ở đây là cần theo dõi đàn tôm trong suốt quá trình nuôi. Phát hiện được bệnh ở giai đoạn sớm thường dựa vào những ghi nhận trong sản xuất (bao gồm thức ăn tôm sử dụng và sinh trưởng), chất lượng nước và những biểu hiện sinh lý trên cơ thể tôm. Điều này chỉ có thể thực hiện được nếu như trại nuôi có số liệu theo dõi đàn tôm trong suốt quá trình nuôi.

          Người ta cho rằng, có thể nhận biết sự hiện diện cuả mầm bệnh thông qua những dấu hiệu bên ngoài cuả tôm. Tuy nhiên, đây chỉ là một trong những trường hợp hiếm hoi nào đó. Trong hầu hết các trường hợp, những dấu hiệu bên ngoài cuả tôm bệnh giống nhau lại liên quan đến nhiều mầm bệnh khác nhau. Ngay khi sự nhiễm bệnh có thể xác định thông qua  những dấu hiệu bên ngoài cuả tôm, điều này cũng không nói lên được bất cứ điều gì về môi trường nơi xảy ra bệnh ấy. Nhiều khi, các dấu hiệu bên ngoài, chỉ cho biết một cách mơ hồ về tình trạng sức khoẻ của tôm, trừ khi chúng biết được những biểu hiện đang biến đổi như thế nào. Nếu như không theo dõi tôm thường xuyên thì sẽ không thể biết được có nhiều hay ít tôm bị đói hoặc nhiều hay ít tôm bị lở loét.

          Việc xác định mầm bệnh hay định danh bệnh thường có ý nghĩa rất ít đối với nông dân. Ví dụ, nếu như có một nông dân nói rằng tôm cuả ông ta bị bệnh do MBV, điều đó không giúp ich gì được cho ông ta trong việc cải thiện năng suất nuôi. Biện pháp duy nhất mà ông ta có thể là là giảm “sốc” cho tôm, bằng cách cải thiện môi trường  nhưng rất có thể là ông ta đang quản lý môi trường với hết khả năng cuả mình. Do không có cách nào để phòng ngừa hay chế ngự bệnh MBV, nên việc xác định bệnh MBV không giúp ích gì được cho nông dân trong trường hợp này.

          Điều này không có nghĩa là việc xác định mầm bệnh thì không có tác dụng nào hết. Nếu như biết có sự hiện diện cuả một mầm bệnh rất nghiêm trọng nào đó, chẳng hạn bệnh virus đốm trắng chẳng hạn, thì giải pháp duy nhất là thu hoạch càng nhanh càng tốt. Vì thế xác định được mầm bệnh sớm sẽ giúp người nuôi giảm thiểu những mất mát. Tuy nhiên, cũng phải cân nhắc kỹ lưỡng có nên thu hoạch khẩn cấp hay không. Thất thoát do thu hoạch khẩn cấp phải tương xứng với khả năng mất trắng cả vụ nuôi. Nguyên nhân là do sự thay đổi hình thức biểu hiện của nhiều loại bệnh tôm. Ví dụ như vào năm 1995, sự hiện diện của những đốm trắng có liên quan đến bệnh đốm trắng  thường báo hiệu sẽ có nhiều tôm chết trong một tuần sau. Hai năm sau, người ta nhận thấy sự xuất hiện cuả những đốm trắng không nhất thiết là bệnh đốm trắng sẽ bộc phát nghiêm trọng. Nguyên nhân của sự thay đổi này vẫn chưa được làm rõ, tuy nhiên, người nuôi không nên căn cứ vào dấu hiệu bệnh mà quyết định thu hoạch sớm.

          Xác định mầm bệnh cũng giúp ta biết được tình trạng sức khoẻ chung cuả đàn tôm nuôi. Điều quan trọng là biết được các chế độ quản lý có ảnh hưởng đến mức độ nhiễm bệnh ở trong ao nuôi hay không. Do đó, những thông tin về mức độ nhiễm bệnh có thể dùng làm cơ sở để cải tiến công tác quản lý. Việc nghiên cứu về mầm bệnh trong phòng thí nghiệm lại có thể cho những hữu ích khác. Nếu một sự nhiễm khuẩn nào đó được phát hiện, người ta có thể kiểm tra mức độ nhạy cảm cuả vi khuẩn với các loại kháng sinh để tìm ra thuốc trị bệnh hữu ích nhất. Tuy nhiên, khi có được những thông tin đó, thường là quá trễ để xử lý bệnh cho vụ đang nuôi, nhưng có thể dùng để chọn lực cách xử lý có hiệu quả hơn cho các ao khác hoặc cho các vụ sản xuất về sau.

          Một trong những ý nghĩa quan trọng cuả việc xác định mầm bệnh là cung cấp những dẫn liệu về tình trạng bệnh tật của đàn tôm trong một trại hay cả một vùng nuôi rộng lớn nào đó. Điều này có thể giúp làm giảm bới sự nhiễm bệnh lan tràn và cung cấp thông tin cần thiết nếu như đây là một sự nhiễm bệnh mới. Điều này đã từng được chứng minh khi bệnh đầu vàng lần đầu tiên xuất hiện tại Thái lan. Loại bênh do vi rút cực kỳ nguy hiểm này đã được xác định và đã có nhiều biện pháp ngăn ngừa nhanh chóng được áp dụng. Những giải pháp như vậy có lẽ không thể có được nếu không có những dẫn liệu chi tiết về sự xuất hiện bệnh trong khu vực, để phát hiện bệnh cần có các căn cứ sau:

          3.1 Quan sát ở bờ ao: Nếu phiêu sinh vật phát triển, chất lượng nước và tôm đều ở trong điều kiện tốt, thì kể từ tuần nuôi thứ ba sẽ không nhìn thấy tôm nữa. Khi tôm bị ảnh hưởng cuả môi trưòng xấu hoặc bị bệnh, chúng thường nổi lên mặt nước hoặc tập trung ven bờ. Khi quan sát thấy tôm ở ven bờ hay gần mặt ao thì sự cố đã nghiêm trọng. Vì thế, cần phát hiện sớm những dầu hiệu khác thường cuả tôm thông qua sàng ăn hoặc chài.

          Người ta nghĩ rằng tôm nổi đầu lên mặt ao hay ven bờ vì nước có hàm lượng ôxy cao. Trong nhiều trường hợp, tôm nổi lên mặt ao hay ven bờ cũng là để tránh hàm lượng chất độc cao ở đáy ao. Kiểm tra các ao nuôi vào ban đêm và lúc sáng sớm là rất quan trọng vì tôm bệnh sẽ nổi lên mặt nước hoặc ven bờ rất nhiều vào những lúc này.

          Khi thấy tôm tập trung ven bờ thì nên kiểm tra đáy ao để xem có tôm chết hay không, nhất là ở khu vực đặt máy sục khí, ở giữa ao nơi có tích tụ cặn bã và quanh cống thaót nước.

          3.2 Quan sát tôm lúc thu mẫu: Kiểm tra kỹ các mẫu tôm thu được từ các sàng ăn hoặc qua các lần chài sẽ thu được nhiều thông tin chi tiết trước khi phát hiện tôm bị bệnh. Điều đáng nhớ là dấu hiệu bệnh trước tiên ở tôm thường là sự thay đổi màu sắc, đóng rong và sau đó là tôm giảm ăn, vì vậy thông qua sàng ăn có thể biết dấu hiệu ban đầu cuả bệnh. Cùng với việc ghi nhận thức ăn thừa trên sàng ăn, cũng nên quan tâm đến hiện tượng tôm không có thức ăn trong đường ruột.

          Nên quan sát tôm trong sàng ăn trong vòng một giờ sau khi cho ăn. Tôm vào sàng ăn sẽ thay đổi sau khi cho ăn. Trong hầu hết các ao nuôi, tôm thường cạnh tranh nhau chỗ ăn tốt. Những con tôm yếu thường phải ăn ở những chỗ ăn xấu hơn những con khoẻ. Người nuôi thường rải thức ăn đều khắp ao sau đó mới cho thức ăn vào sàng ăn. Vì thức ăn rải xuống đáy ao trước, nên những con tôm khoẻ sẽ ăn trước và những con yếu chỉ có thể ăn trong sàng ăn. Nhưng khi thức ăn dưới đáy ao hết, những con khoẻ lại vào ăn trong sàng và hiện tượng này thường xảy ra khoảng một giờ rưỡi sau khi cho ăn.

          Cần phải lưu ý đến hiện tượng bị chiếm chỗ cuả tôm yếu khi thu mẫu bằng chài. Tôm yêú thường xuất hiện chung quanh chỗ bẫn cuả đáy ao hoặc ven bờ nơi có nhiều chất thải tích tụ.

          Để xác định được ao nuôi có sự cố ở giai đoạn sớm nhất, cần phải kiểm tra sức khoẻ tôm trong những tình huống sau đây:

          + Tôm giảm ăn

          + Tảo tàn

          + Sau khi trời mưa to

          + Những ngày trời u ám

          + Nhiệt độ thấp

          + Chất lượng nước xấu

          + Hoặc các điều kiện bất lợi khác.

* Những dấu hiệu bệnh

- Màu sắc tôm:  

          Thông thường màu sắc cuả tôm sẽ liên quan với các điều kiện môi trường chúng sống. Chẳng hạn, ở những ao cạn và trong, tôm thường sậm màu hơn tôm ở ao sâu hoặc nước ít trong hơn. Sự thay đổi về màu sắc cũng có thể là một dấu hiệu về sức khoẻ. Tôm yếu thường chuyển sang màu xanh da trời khác biệt với màu xanh lá cây bình th7ờng. Màu xanh da trời cũng có thể là do di truyền hay do điều kiện dinh dưỡng  và tôm bình thường sẽ có màu xanh da trời ngay sau khi lột xác. Tôm yếu có thể trở nên đỏ, nhất là phụ bộ và chân đuôi. Có vài nguyên nhân gây ra màu đỏ, đó là do sự phóng thích sắc tố caroten  bỡi sự huỷ hoại gan tuỵ và dĩ nhiên tôm chết thường có màu đỏ. Tôm còi hay chậm lớn thường có vết đỏ hoặc trắng dài dọc lưng do sự tập trung cuả sắc tố. ở tình trạng bình thường, sắc tố này sẽ bị loại bỏ trong quá trình lột xác.

          Hầu hết các vết thương ở tôm sẽ chuyển sang màu đen hay màu nâu, sau một thời gian ngắn. Đó là do sự sinh ra sắc tố đen hay nâu sậm còn gọi là ‘melanin” độc đối với vi sinh vật và có thể bảo vệ tôm khỏi bị nhiễm trùng. Chẳng hạn, các phụ bộ cuả tôm khi bị tôm khác cắn sẽ biến thành màu đen ở phần cuối và những chỗ bị nhiễm khuẩn trên vỏ cũng biến thành màu đen.

          Ngoài sự chuyển biến màu đen, có một số trường hợp không bình thường khác có thể ảnh hưởng đến các phụ bộ. Phụ bộ có thể bị cong hoặc bị gãy và đuôi có thể sưng phồng lên như vậy thường là hậu quả của sự nhiễm trùng do đáy ao bị ô nhiễm bỡi chất thải.

- Hiện tượng mềm vỏ: Một dấu hiệu khác thường thấy là tôm bị mềm vỏ hay mềm vỏ kinh niên. Thông thường vỏ tôm cứng lại trong vòng 24 giờ sau khi lột. Nếu vỏ không cứng được, nó sẽ nhăn nheo biến dạng và trở nên mẫn cảm hơn với các bệnh nhiễm trùng bề mặt. Có nhiều nguyên nhân gây bệnh mềm vỏ được trình bày sau.

- Hiện tượng đóng rong: Một trong những dấu hiệu thông thường nhất của tình trạng tôm  có sức khỏe kém là hiện tượng đóng rong tức là sự phát triển của các sinh vật trên bề mặt cơ thể tôm. Khi các sinh vật bám trên vỏ tôm chúng sẽ thu hút những chất vẩn cặn và làm cho bề ngoài vỏ tôm có màu xanh rêu hoặc màu bùn.

- Những biến đổi ở mang: Tôm khỏe thường giữ mang của chúng rất sạch. Nhưng khi tôm bệnh hay lờ đờ, thì việc tự làm sạch mang của chúng ít thường xuyên hơn và chúng để mặc cho các sinh vật gây bẩn và chất cặn bã bám vào, làm mang tôm có màu nâu nhìn thấy được qua vỏ giáp. Nếu mang thật sự bị tổn thương, chúng sẽ chuyển sang màu nâu hay đen do sự tích tụ sắc tố đen “melanin”. Tuy nhiên, đôi khi màu đen xuất hiện trên mang hoặc bên trong vỏ giáp cũng có thể là do các muối sắt tích tụ lại. Mang tôm có màu hồng thường thấy ở tôm sống trong nước có hàm lượng ôxy hòa tan rất thấp (<3 mg/l) hoặc hàm lượng chất độc như NH3 cao. Sự thay đổi màu sắc của mang xuất hiện trước hết ở những con tôm sống ở đáy ao, nơi có hàm lượng ôxy thất nhất, hoặc ở ven bờ khi ôxy xuống thấp hơn.

- Những biến đổi ở ruột: Ruột tôm rỗng một phần hay hoàn toàn là dấu hiệu tôm đã bỏ ăn. Điều này có thể do tôm thiếu thức ăn, do môi trường bất lợi hay do sức khỏe yếu.

          Ruột tôm cũng có thể có màu trắng hơn hay đỏ hơn so với màu bình thường của thức ăn viên. Màu đỏ có thể là do tôm ăn những động vật không xương sống có màu đỏ như giun nhiều tơ chẳng hạn. Nếu ruột có màu đỏ mà không có dấu vết gì của giun nhiều tơ trong ruột thì đó là dấu hiệu cho biết có nhiều tôm đã chết và chúng đã ăn xác tôm  chết.

          Màu sắc của hệ gan tụy cũng có thể thay đổi và nguy hiểm nhất là màu vàng mà ta gọi là bệnh đầu vàng, mặc dù biểu hiện bên ngoài cũng tương tự như ở một số điều kiện không đặc thù khác. Hoặc ở bệnh Vibrio mãn tính hay bệnh hoại tử gan tụy, gan tụy sẽ bị teo lại cũng như bị đổi màu.

- Những biến đổi ở cơ: Ngay sau khi lột xác hay trong tình trạng đói kéo dài, cơ bụng của tôm sẽ không lấp đầy vỏ giáp. Điều này cũng gặp ở tôm mắc những bệnh mãn tính làm giảm  ăn. Nếu cơ không choán hết vỏ giáp nhưng ruột có đầy thức ăn thì có thể tôm đang phục hồi hoặc vừa mới lột. Trái lại, bệnh mãn tính thường có thêm những dầu hiệu khác về tình trạng sức khỏe kém.

          Thịt tôm có thể trở nên đục do nhiều lý do như hiện tượng tôm bị “sốc” cấp tính, bị nhiễm vi bào tử hoặc trong những trường hợp của hội chứng cơ co rút mà người ta cho rằng do tôm bị “sốc” trong khi đánh bắt hoặc dinh dưỡng không thích hợp. Cơ cũng có thể hình thành những vết thương đen hoặc nâu. Sự nhiễm khuẩn mãn tính cục bộ sẽ gây nên những vết thương đen trong cơ hay còn gọi là bệnh “mảng đen”. Tình trạng cơ thoái hóa đối xứng hai bên và có màu nâu cũng hay gặp ở tôm khi thu hoạch nhưng nguyên nhân gây ra thì chưa được biết rõ.

4, Các loại bệnh thường gặp và cách phòng trị  

4.1, Bệnh đầu vàng (YHV)

4.1.1, Tác nhân gây bệnh:

          Bệnh đầu vàng gây ra bởi virus đầu vàng (YHV). Hiện nay người ta đã xác định nó không thuộc Baculovirus. YHV chỉ là một RNA sợi đơn hình que được bao bọc bởi bào chất virus gần giống với các virus thuộc họ Coronavus.

4.1.2, Vật chủ:

          Tôm sú Penaeus monodon, tôm he nhật bản P. japonicus, tôm chân trắng  P. vannamei.

4.1.3, Phân bố địa lý:

          Vi rus đầu vàng gây bệnh cho tôm nuôi ở châu á, bao gồm Trung Quốc, ấn Độ, Philippin và Thái Lan. Ngoài ra còn tìm thấy trên tôm nuôi ở Texas. Chưa có công bố tại Việt Nam.

4.1.4, Dấu hiệu bệnh lý:

Tôm chết 2 - 4 ngày sau khoảng thời gian ăn mồi nhiều khác thường và kết thúc bằng việc đột ngột ngừng ăn. Tôm có thể chết 100% trong vòng 3 - 5 ngày. Tôm bị bệnh tập trung ở rìa ao hoặc gần mặt nước. Gan tụy tôm bị đổi màu làm cho phần đầu ngực có màu vàng nhạt - đó cũng là tên của bệnh. Toàn bộ thân tôm có màu nhợt nhạt khác thường. Tôm hậu ấu trùng ở 20 - 25 ngày tuổi hoặc lớn hơn rất dễ bị bệnh, trong khi tôm PL < 15 ngày lại kháng được bệnh.

Tuy nhiên triệu chứng lâm sàng không phải luôn xuất hiện và việc không xuất hiện các triệu chứng lâm sàng không phải là không nhiễm virus đầu vàng.

4.1.5, Các kiểu lan truyền bệnh:

          Bệnh thường được cho là lan truyền theo phương nằm ngang. Tuy nhiên những tôm sống sót sau khi bị bệnh đầu vàng vẫn duy trì lây nhiễm mản tính cận lâm sàng và được cho là lan truyền theo phương thẳng đứng đối với những cá thể này.

4.1.6, Các biện pháp phòng bệnh:

          Hiện nay vẫn chưa có biện pháp chữa trị tôm bị bệnh đầu vàng. Tuy nhiên, có nhiều biện pháp phòng bệnh được nêu ra nhằm giảm lây lan. Những biện pháp đó như sau:

          - Tôm bố mẹ cần được kiểm sơ bộ đối với virus bệnh đầu vàng.

          - Các cá thể bị nhiễm bệnh và con cháu chúng sẽ bị tiêu diệt bằng phương pháp tiệt trùng.

          - Kết hợp tẩy trùng thiết bị và nước nuôi.

          - Loại bỏ những vật có khả năng truyền bệnh đầu vàng kiểm sơ bộ tôm PL trước khi thả vào ao.

          - Sau khi thả, để ngăn chặn việc lan rộng các sinh vật truyền bệnh, nguồn nước dùng cho các lần thay nước cần phải lọc hoặc xử lý trước ở trong các ao chứa.

          - Tránh làm thay đổi nhanh pH hoặc kéo dài giai đoạn có ôxy hòa tan thấp (<2 ppm). Điều này có thể gây bùng phát bệnh đầu vàng ở mức dưới gây chết. Độ kiềm không nên dao động quá 0,5/ngày và tránh để nước có pH > 9. Những biến đổi về độ mặn không hề làm bùng phát bệnh.

          - Tránh dùng thức ăn thủy sản tươi trong ao nuôi tôm thịt, bể nuôi thành thục và các thiết bị ương, trừ khi thức ăn đã được tiệt trùng.

          Nếu xảy ra bùng phát bệnh thì phải xử lý ao bị bệnh bằng dung dịch Chlorine 30 ppm để diệt tôm và các vật có tiềm năng mang bệnh. Cần thu gom tôm và các động vật khác bị chết để chôn vùi hoặc tiêu hủy. Nếu không thể loại bỏ chúng thì cần phơi khô kỹ ao trước khi thả giống mớiếu xảy ra bùng phát bệnh thì phải xử lý ao bị bệnh bằng dung dịch Chlorine 30 ppm để diệt tôm và các vật có tiềm năng mang bệnh. Cần thu gom tôm và các động vật khác bị chết để chôn vùi hoặc tiêu hủy. Nếu không thể loại bỏ chúng thì cần phơi khô kỹ ao trước khi thả giống mới.

          Nếu ao đột nhiên nhiễm bệnh thì có thể thu hoạch khẩn cấp. Nước thải cần được bơm vào ao bên cạnh để tiệt trùng bằng Chlorine và giữ ít nhất trong 4 ngày trước khi tháo đi. Tất cả các chất thải khác cần được chôn vùi hoặc tiêu hủy.

4.2, Bệnh hoại tử vỏ dưới và cơ quan tạo máu do nhiễm trùng (ihhnv)

4.2.1, Tác nhân gây bệnh

Bệnh hoại tử vỏ dưới và cơ quan tạo máu do nhiễm trùng (IHHNV) gây ra bỡi virus không bao gắn kết, virus gây bệnh nhiễm trùng vỏ dưới và hoại tử (IHHNV), có đường kính trung bình 22nm.

4.2.2, Vật chủ gây bệnh

          IHHNV gây bệnh cho nhiều loài tôm thuộc họ Panaeidae nhưng hình như không gây bệnh cho các loài cua. Đã có thông báo nhiễm bệnh tự nhiên ở một số loài tôm như Tôm chân trắng, tôm sú, tôm he nhật bản, và một số loài tôm nuôi khác.

4.2.3, Phân bố

Bệnh IHHNV xuất hiện ở tôm Penaeid nuôi và hoang dã vùng Trung Mỹ, Ecuado, ấn Độ, Indonesia, Mãlaisia, Philippin, Peru, Đài Loan, Trung Quốc và Thái Lan. ở Việt Nam chưa công bố có bệnh này.

4.2.4, Dấu hiệu lâm sàng

Đối với tôm chân trắng virus IHHN thường chỉ gây ra bệnh mãn tính còn gọi là “hội chứng dị hình còi cọc”, tỷ lệ dị hình còi cọc có thể lên đến từ 30% -90% so với đàn tôm.

4.2.5, các kiểu lan truyền

Một vài cá thể của quần thể tôm chân trắng còn sống sau khi bị nhiễm virus IHHN hoặc bị dịch có thể truyền nhiễm cận lâm sàng theo phương nằm ngang cho các đàn tôm nuôi khác hoặc theo phương thẳng đứng, nếu dùng chúng làm tôm bố mẹ.

4.2.6, các biện pháp kiểm soát

Có thể áp dụng các biện pháp diệt virus IHHN trong những tình huống nuôi thuỷ sản nhất định. Các phương pháp này phụ thuộc vào việc diệt đàn tôm nhiễm bệnh, tiệt trùng các thiết bị nuôi, tránh tái nhiễm virus (từ những thiết bị nuôi xung quanh, tôm tự nhiên,..) và việc tái tạo đàn tôm giống sạch bệnh virus IHHN từ những tôm bô mẹ sạch virus IHHN.

4.3. Bệnh đốm trắng (WSSV)

4.3.1, Tác nhân gây bệnh

          Tác nhân gây bệnh đốm trắng là virus gây hội chứng đốm trắng (WSSV).

4.3.2, Vật chủ

          Bệnh đốm trắng có số lượng vật chủ khá lớn. Bệnh bùng phát được thông bao lần đầu tiên từ trại nuôi tôm he Nhật Bản ở Nhật và sự lây nhiễm tự nhiên sau đó đã quan sát thấy ở nhiều loài tôm trong đó có tôm chân trắng.

4.3.3, Phân bố địa lý

          Bệnh đốm trắng lần đầu tiên được thông báo ở Đài Loan - Trung quốc và Trung Quốc lục địa vào năm 1991-1992, ở Nhật vào năm 1993 từ tôm nhập khẩu của Trung Quốc. Sau đó cũng phát hiện thấy bệnh ở các nơi khác của châu á như: Trung Quốc, ấn độ, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Đài Loan, Thái lan và Việt Nam.

4.3.4, Dấu hiệu lâm sàng

Bệnh đốm trắng bùng phát thường được đặc trưng bỡi việc chết nhiều và nhanh của đàn tôm bị nhiễm bệnh sau khi có biểu hiện lâm sàng. Tôm bị bệnh cấp tính có biểu hiện biếng ăn, và chết, có lớp vỏ mềm với nhiều đốm trắng (có đương kính 0,5-2mm) ở hai bên sườn vỏ tôm. Những đốm này ở trong lớp vỏ và không thể loại bỏ bằng việc chà sát. Tôm sắp chết cũng có thể biến màu từ hồng sang đỏ. Các loài tôm nhạy cảm khi đã có các biểu hiện lâm sàng thì dễ dàng bị chết nhiều. Triệu chứng bệnh học kết hợp với sự phá huỷ hệ thống mô ngoại bì và trung bì của mang và các mô dưới lớp vỏ.

4.3.5, Các kiểu lan truyền:

          Hiện nay bệnh do virus đốm trắng lan truyền theo hai đường, đó là đường hàng ngang và hàng dọc.

4.3.6, Các biện pháp kiểm soát bệnh

Hiện vẫn chưa có biện pháp chữa trị tôm bị nhiễm virus đốm trắng, tuy nhiên đã có nhiều biện pháp phòng ngừa để hạn chế việc lây lan.

          Với các cơ sở sản xuất tôm PL người ta đề nghị là tôm bố mẹ tự nhiên cần được kiểm tra sơ bộ bệnh đốm trắng bằng kỹ thuật Nested - PCR. Bất kể cá thể nào bị bệnh. kể cả thế hệ sau cũng cần phải tiêu huỷ  bằng các biện pháp vệ sinh và tất cả các thiết bị đã bị ô nhiễm cũng như nước nuôi phải được tiệt trùng. Người ta cũng đã đề xuất là tôm sú bố mẹ cần được kiểm tra bệnh đốm trắng sau khi đẻ nhằm tăng khả năng phát hiện virus.

          Khi nuôi lớn, tôm PL cần được kiểm tra sơ bộ để phát hiện virus bệnh đốm trắng bằng kỹ thuật nested-PCR, bằng cách sử dụng  một lượng lớn tôm Pl  nhằm đảm bảo phát hiện các lây nhiễm có ý nghĩa. Cách lấy mẫu là chọn những con yếu để kiểm tra, việc này sẽ làm tăng khả năng phát hiện các mẻ tôm bị bệnh.

          Trong quá trình nuôi việc thay đổi nhanh nhiệt độ nước, độ cứng và độ mặn hoặc giảm mức ôxy (<2ppm) trong giai đoạn dài có thể gây ra bùng phát bệnh đốm trắng ở tôm đã nhiễm cận lâm sàng. Hiện vẫn chưa biết liệu thay đổi lớn của giá trị pH trong ngày đêm có thể làm bùng phát bệnh đốm trắng không nhưng nếu ao có pH ổn định thì nhìn chung tôm ít bị sốc. Không nên dùng thức ăn có nguồn gốc động vật thuỷ sản tươi hoặc tươi qua ướp đông để nuôi tôm thịt, nuôi thành thục và ương ấp trừ khi thức ăn đó đã được tiệt trùng bằng tia gama hoặc thanh trùng (giữ ở 70oC trong 10 phút).

          Bất cứ ao nuôi nào bị bệnh cũng cần phải được thanh trùng ngay bằng Chlorin 30 ppm để diệt tôm bệnh và tất cả các vật mang bệnh khác. Tôm và các động vật chết khác cần được dọn sạch và chôn vùi hoặc tiêu huỷ. Nước phải được lưu giữ ít nhất 4 ngày trước khi thải đi. các chủ ao bên cạnh cần được thông báo ngay và không được thay nước ít nhất 4 ngày sau khi nước được thao khỏi ao có tôm bệnh nếu như có liên quan đến nguồn nước cấp riêng.

          Nếu ao có tôm bị bệnh phải thu khẩn cấp thì nước thải phải được bơm vao ao gần đó hoặc ao chứa để tẩy trùng bằng Chlorin và lưu giữ ít nhất 4 ngày trước khi thao đi. Toàn bộ nước từ ao đã thu hoạch cần được tháo vào ao xử lý và bất cứ phế liệu nào cũng đều phải chôn vùi hoặc đốt. Người thu hoạch tôm phải thay quần áo vá tắm ở nơi mà nước sẽ được dẫn vào ao xử lý. Quần áo của người thu hoạch cần xếp vào trùng riêng để gửi đi khử trùng và giặc là. Các thiết bị, xe cộ, giày dép và phía ngoài các thùng đựng tôm phải tháo ra ao xử lý. Nhà máy chế biến cần được thông báo về những lô tôm có bệnh đốm trắng và các biện pháp thích hợp cần được tiến hành trong nhà máy để tránh sự lây truyền bệnh qua các thùng vận chuyển và phế thải chế biến. Cần ngăn chặn việc đưa tôm sống từ vùng có dịch virus đốm trắng cục bộ tới những vùng chưa hề có bệnh hoặc những vùng được coi là sạch bệnh.

4.5, Hội chứng Taura

4.5.1. Tác nhân gây bệnh:

Hội chứng Taura gây ra bởi virus hội chứng Taura (TSV). Nó tạm thời được xếp vào họ Picomaviridae dựa trên hình thái học của nó.

4.5.2. Vật chủ:

Virus hội chứng Taura gây bệnh ở nhiều loài tôm he Mỹ. Loài mẫn cảm nhất là tôm chân trắng Penaeus vannamei.

4.5.3. Phân bố địa lý:

Hội chứng Taura lần đầu tiên được xác định ở các trại nuôi tôm gần sông Taura, Ecuador vào năm 1992. Sau đó bệnh lan tràn ra hầu khắp các vùng nuôi tôm thịt của châu Mỹ La tinh bao gồm Hawaii và vùng bờ biển Thái Bình Dương của Colomba, Costarica, Ecuador, El Salvador, Guatemala, Honduras, Mexico, Nicaragua, Panama và Peru.

Virus hội chứng Taura cũng được tìm thấy ở tôm nuôi dọc bờ biển Đại Tây Dương của Belize, Brazil, Columbia, Mexico và Venezuela và các bang Nam Mỹ như Bang Florida, Nam Carolina và Texas.

4.5.4. Dấu hiệu bệnh lý:

Hội chứng Taura đặc biệt gây hại cho hậu ấu trùng P.vannamei khoảng 14-40 ngày sau khi thả vào ao nuôi hoặc bể nuôi tôm thịt, tuy nhiên ở các giai đoạn lớn hơn chúng vẫn có thể bị lây nhiễm nặng. Hội chứng Taura được chia thành 3 giai đoạn khá rõ: (1) Giai đoạn cấp tính, ở giai đoạn này phần lớn tôm bị chết; (2) Giai đoạn chuyển tiếp ngắn; (3) Giai đoạn mãn tính của vật mang bệnh. ễÛ Giai đoạn cấp tính biểu mô cutin bị tác động mạnh nhất. ễÛ giai đoạn mãn tính, cơ quan bạch huyết là nơi có ưu thế bị bệnh. ễÛ giai đoạn bị bệnh cấp tính tôm P.vannamei có tỷ lệ chết cao (40-90%). Những tôm sống sót qua giai đoạn bệnh cấp tính sẽ chuyển qua một giai đoạn chuyển tiếp ngắn rồi chuyển sang giai đoạn mản tính và có thể sống sót. Giai đoạn cận lâm sàng của việc nhiễm bệnh này được coi là có tham gia vào việc lan truyền bệnh qua vật mang virus Taura sống.

4.5.5. Các kiểu lan truyền bệnh:

Tôm sống sót qua giai đoạn cấp tính và giai đoạn chuyển tiếp của hội chứng Taura có thể duy trì lây nhiễm cận lâm sàng mãn tính ở cơ quan bạch huyết trong thời gian sống còn lại. Những con tôm này có thể lan truyền virus theo phương nằm ngang đối với các tôm khác nhạy cảm với bệnh. Sự lan truyền theo phương thẳng đứng cũng có thể diễn ra nhưng điều này cần phải được nghiên cứu thêm.

Ngoài ra, việc di chuyển các vật mang virus hội chứng Taura, các côn trùng thủy sinh, chim biển cũng tham gia vào việc lan truyền bệnh.

4.5.6. Các biện pháp kiểm soát bệnh:

Khả năng loại trừ bệnh phụ thuộc vào việc loại bỏ hoàn toàn nguồn tôm lây nhiễm, việc tiệt trùng cơ sở nuôi, tránh tái nhiễm virus (từ các thiết bị nuôi ở gần đó, tôm tự nhiên hoặc các vật mang bệnh cận lâm sàng…) và thả lại tôm giống mới sạch virus hội chứng Taura từ nguồn tôm bố mẹ sạch bệnh virus hội chứng Taura.

4.6, Bệnh hoại tử khối gan tụy

4.6.1. Tác nhân gây bệnh:

Bệnh hoại tử gan tụy (NHP) do một loại vi khuẩn có kích thước tương đối nhỏ, đa hình ở mức cao Gram âm, chỉ gây bệnh trong nội bao. Vi khuẩn gây bệnh NHP có hai hình dạng khác nhau về hình thái: một dạng là que nhỏ đa hình và không có tiêm  mao; trong khi đó dạng kia là một que dài xoắn có 8 tiên mao trên đỉnh của vi khuẩn và một tiên mao phụ (đôi khi là 2) ở gờ của vòng xoắn.

4.6.2. Vật chủ:

NHP gây bệnh trên tôm Penaeus vannamei P.stylirostris nhưng gây chết hàng loạt ở tôm P.vannamei.

4.6.3. Phân bố địa lý:

NHP lần đầu tiên được thấy ở Texas năm 1985. Các trận dịch khác cũng được ghi nhận ở hầu hết các nước châu Mỹ La tinh ở cả bờ biển Thái Bình Dương và Đại Tây Dương, bao gồm Brazil, Costarica, Ecuador, Mexico, Panama, Peru và Venezuela.

4.6.4. Dấu hiệu lâm sàng:

Vi khuẩn gây bệnh NHP chỉ tác động rõ rệt lên các tế bào biểu mô có liên quan đến tuyến gan tụy, cho đến nay vẫn chưa có loại tế bào nào khác bị nhiễm vi khuẩn này. Sự thay đổi các yếu tố môi trường đóng vai trò quan trọng cho việc bộc lộ các biểu hiện lâm sàng của bệnh NHP; trong đó nhân tố quan trọng nhất là độ mặn của nước trên 16 phần ngàn và nhiệt độ nước lớn hơn 26 oC.

4.6.5. Các kiểu lan truyền bệnh:

Phát hiện sớm bệnh lý NHP là rất quan trọng để tìmbiện pháp xử lý có hiệu quả do khả năng tiềm ẩn của nhóm sinh vật ăn thịt làm khuyếch đại và lan truyền bệnh. Xét nghiệm phân tử hậu ấu trùng của tôm bố mẹ bị bệnh cho thấy sự lan truyền bệnh theo trục ngang không xảy ra.

4.6.6. Các biện pháp kiểm soát bệnh:

 

Phần I

SƠ LƯỢC MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM SINH HỌC CỦA TÔM CHÂN TRẮNG

1, Phân bố.

          Tôm chân trắng (Penaeus vannamei Boone, 1931 tên khác Litopennaeus vannamei Boone, 1931) có nguồn gốc từ các nước ven bờ Tây Thái Bình Dương, Nam Trung Mỹ. Trên thế giới, tôm chân trắng được nuôi nhiều ở các nước Nam Mỹ, Nam Trung Mỹ. ở châu á không có tôm chân trắng phân bố tự nhiên, song từ những thập niên 80,90 đối tượng này đã được di nuôi thử nghiệm thành công và đến nay đã có nhiều nước cho phát triển mạnh loài tôm nay như Trung Quốc, Đài Loan, Thái Lan, Malaysia,... Năm 2003, tổng sản lượng tôm chân trắng ở châu á ước tính vào khoảng 500.000 tấn và giá trị xuất khẩu tương đương 4,0 tỷ USD. Điều này cho thấy tôm chân trắng sẽ là đối tượng nuôi quan trọng ở các quốc gia châu á, bên cạnh đối tượng nuôi truyền thống là tôm sú trong thời gian đến. ở Việt nam, trong những năm gần đây tôm chân trắng cũng được đưa vào nuôi thử nghiệm và được phát triển mạnh tại một số tỉnh như Khánh Hòa, Phú Yên, Bình Định, Quảng Ngãi, Quảng Trị và Hà Tĩnh,... bước đầu được đánh giá là dễ nuôi, có những ưu điểm nhất định so với tôm sú và có hiệu quả kinh tế tương đối cao, có triển vọng thay thế một phần diện tích vùng nuôi tôm sú kém hiệu quả mà đặc biệt là các vùng trên cát.

2, một số đặc điểm thích nghi với môi trường.

- Tôm chân trắng là loài rộng muối, chúng có thể chịu đựng được độ mặn từ 0,5 – 450/00, tăng trưởng tốt ở độ mặn từ 10 –300/00.

- Tôm chân trắng chịu đựng nhiệt độ thấp tốt (tốt hơn tôm sú), có thể phát triển ở nhiệt độ từ 17 – 370C, thích hợp: 25 – 320C.

- pH từ 7,0 – 9,0, thích hợp : 7,5 – 8,8.

- Hàm lượng ôxy hòa tan: tôm chân trắng phát triển nhanh khi có đầy đủ hàm lượng ôxy hòa tan, nếu ôxy hòa tan dưới 3,5 ppm tôm chậm phát triển, nếu dưới 2,5ppm tôm bắt đầu nổi đầu và chết ngạc. yêu cầu hàm lượng ôxy hòa tan khi nuôi tôm chân trắng phải > 4,0 ppm.

- Chất đáy cát, cát bùn, đáy cứng sẽ rất thuận lợi cho tôm phát triển.

3, Đặc điểm dinh dưỡng.

          Tôm chân trắng là loài ăn tạp, có thể ăn nhiều lọai thức ăn có nguồn gốc từ động, thực vật, trong nuôi nhân tạo có thể sử dụng các loại thức ăn công nghiệp chuyên dùng. Tôm chân trắng có nhu cầu chất đạm thấp hơn (20 –35%) so với tôm sú (38 – 40%), hệ số thức ăn thấp, khoảng 1,2 so với tôm sú là 1,5 vì thế có thể giảm đi chi phí sản xuất và thuận lợi cho các hệ thống sản xuất tuần hòan. (hiện nay theo thống kế các mô hình nuôi tôm chân trắng tại Ninh Thuận thì hệ số thức ăn (FCR) cuả tôm chân trắng dao động từ 0,9 -1,1, phổ biến 1,0).

4, Sinh sản.

          Tôm chân trắng là loài thụ tinh ngòai, chúng có thể thành thục và đẻ trứng quanh năm, các giai đọan ấu trùng cũng tương tự như tôm sú. Trong điều kiện nhân tạo tôm chân trắng cũng có thể thành thục và đẻ trứng, do vậy hiện nay trên thế giới đã có nhiều công ty chuyên sản xuất giống tôm chân trắng bố mẹ đạt chất lượng cao phục vụ cho nhu cầu sản xuất giống. Trong điều kiện nhân tạo đã sản xuất được con giống bố mẹ "sạch bệnh đặc thù – (SPF)" và "kháng bệnh đặc thù – (SPR)".

5, Sinh trưởng.

          Tôm chân trắng sinh trưởng thông qua quá trình lột xác, chu kỳ lột xác phụ thuộc vào từng giai đọan phát triển. Tôm chân trắng có tốc độ tăng trưởng tương đối nhanh, trong giai đọan < 20g/con, tôm chân trắng có thể tăng trưởng 1,5 g/tuần (tôm sú 1g/tuần), trong thời gian nuôi từ 75 – 85 ngày từ PL12, tùy theo mật độ nuôi, điều kiện môi trường tôm có thể đạt trọng lượng từ  10 –12g/con.

Phần II

KỸ THUẬT NUÔI TÔM CHÂN TRẮNG

1, Chọn địa điểm xây dựng ao nuôi:

          Chọn địa điểm để đầu tư xây dựng ao nuôi là rất quan trọng có ảnh hưởng lớn đến mức đầu tư, tính rủi ro trong quá trình nuôi tôm. Để chọn được địa điểm phù hợp phải xem  xét nguồn nước, chất đất và cơ sở hạ tầng. Việc xem xét cẩn thận là rất cần thiết để:

          - Giảm  giá thành xây dựng.

          - Giảm  chi phí sản xuất.

          - Bảo đảm cấp đủ nước.

          - Cho phép điều chỉnh hệ thống nuôi cho phù hợp với những thay đổi về kinh tế và môi trường.

1.1, Nguồn nước cấp:

Hai yếu tố căn bản của nguồn nước cần lưu ý đó là độ mặn nguồn nước cấp và pH, ngoài ra còn phải tính toán đến tính ổn định của nguồn nước, chi phí cấp thoát nước, nguy cơ bị ô nhiễm nguồn nước do công nghiệp, nông nghiệp, sinh hoạt và kể cả do hoạt động nuôi trồng thuỷ sản gây ra…

1.2, Vị trí và điều kiện chất đất:

 Vị trí xây dựng ao nuôi cần lưu ý đến điều kiện thuận lợi cho việc cấp và thoát nước được thuận lợi. Ao nuôi có thể cấp nước được dễ dàng và có thể tháo nước tự chảy nhằm giảm chi phí bơm nước. Chất đất cũng có ảnh hưởng rất lớn đến việc thi công xây dựng ao, quản lý chất lượng nước ao nuôi sau này và có ảnh hưởng lớn đến kết quả nuôi. Ao nuôi tôm chân trắng cần chọn những vùng đất cát, đất cát pha, nền đất cứng, pH đất > 6,0; tránh những khu vực rừng ngập mặn, sình lầy, những vùng đất như thế vừa gây khó khăn cho thi công xây dựng ao nuôi vừa gây khó khăn trong quá trình quản lý chất lượng nước trong quá trình nuôi.

1.3, Cơ sở hạ tầng: 

Đường đến ao nuôi có thể là đường thuỷ hay đường bộ nhưng phải thuận lợi quanh năm. Điều này quan trọng cho việc vận chuyển tôm thu hoạch, vận chuyển vật tư, thức ăn, con giống,… đến cơ sở nuôi được nhanh chóng, thuận lợi, ngoài ra việc chọn nơi xây dựng ao nuôi tôm cần lưu ý các điều kiện sau đây:

          - Khả năng cung cấp thức ăn và các thứ cần thiết khác phục vụ quá trình nuôi.

          - Nguồn lao động.

          - Cán bộ có trình độ khoa học kỹ thuật, quản lý.

          - Nguồn nhiên liệu hoặc nguồn điện, hiện nay khu vực có nguồn điện là rất tiện lợi và sẽ làm giảm chi phí sản xuất đáng kể do giá dầu hiện nay khá cao và có xu thế ngày càng tăng.

          - Hệ thống thông tin liên lạc

          - An ninh.

2, Thiết kế và xây dựng ao nuôi.

          Ao nuôi tôm có thể có rất nhiều kiểu dáng khác nhau, mỗi kiểu dáng có những thuận lợi riêng. Việc xây dựng hệ thống ao nuôi cần phải dựa trên cơ sở năng suất muốn đạt được, lượng nước cần thay và khả năng tái sử dụng nước. Điều này phải phù hợp với địa điểm xây dựng ao nuôi nhưng cũng phải lưu ý đến khả năng uyển chuyển cho phù hợp với những tình cảnh có thể thay đổi. Thiết kế hệ thống ao nuôi cần tính tới những vấn đề căn bản dưới đây:

          - Cống đầu nguồn và hệ thống bơm nước.

          - Ao chứa nước.

          - Hệ thống kênh cấp nước.

          - Ao nuôi.

          - Hệ thống kênh thoát nước, ao lắng và ao xử lý nước trước khi xả ra  môi trường ngoài.

          - Nhà cữa và khả năng thay đổi hệ thống ao nuôi.

2.1, Ao chứa nước:

Ao chứa nước có vai trò quan trọng trong việc quản lý môi trường ao nuôi, nhất là ở những nơi mà chất lượng nước không ổn định hoặc cấp nước không được liên tục như ở vùng cửa sông, vùng dự án chỉ cấp nước theo “phiên”. Ao chứa còn có vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa dịch bệnh lây lan vào ao nuôi. Ao chứa còn có chức năng như hệ thống lọc sinh học để cải thiện chất lượng nước cấp. Không nên xây dựng ao chứa ở nơi đất nhiễm phèn tiềm tàng hay đất xốp. Ao chứa phải đủ rộng để chứa khoảng 30% tổng lượng nước ở các ao nuôi và có cống thoát để tiêu nước. Trong nhiều trường hợp có thể tăng khả năng trữ nước cuả ao bằng cách đào ao sâu, nhưng có nơi điều này khó thực hiện được do chi phí cao hoặc do điều kiện thổ nhưỡng. Về mặt lý thuyết, nước thường tự chảy từ ao chứa sang ao nuôi. Nhưng trên thực tế, điều này lại khó thực hiện được và nhiều ao nuôi năng suất cao phải bơm nước từ ao chứa sang kênh cấp nước.

          Ở những vùng nước có quá nhiều chất vẩn cặn (như vùng cữa sông), ao nên có dạng khúc khuỷu hay có các bờ ngăn để làm chậm quá trình nước chảy qua ao và như vậy sẽ làm tăng quá trình lắng tụ chất vẩn cặn. Nên có khu vực chứa nước thải riêng biệt cho nguồn nước cấp và nước tái sử dụng.

2.2, Ao nuôi:

Mục tiêu chính cuả việc thiết kế ao tốt là giúp quản lý hiệu quả chất thải. Chất thải được gom tụ lại ở một nơi nào đó trong ao, thường là ở giữa ao. Một ao được thiết kế tốt cũng dễ quản lý về nhiều phương diện khác nữa như thay nước và thu hoạch tôm. Những lưu ý khi thiết kế ao nuôi là:

          - Hình dáng ao

          - Vị trí đặt máy sục khí

          - Kích cỡ ao nuôi

          - Bờ ao

          - Gia cố mặt bờ và đáy ao

          - Cống cấp và tiêu nước.

 2.2.1, Hình dáng ao:

          Hình dáng ao, vị trí đặt máy sục khí và dòng chảy trong ao quyết định đến sự di chuyển cuả chất thải. ở ao nuôi năng suất cao, cần giữ đáy ao sạch đủ rộng để giúp cho tôm bắt mồi hiệu quả (hình dáng ao và diện tích ao sao cho khi đặt quạt nước sẽ tạo ra diện tích vùng đáy ao sạch là cao nhất và diện tích vùng đáy ao dơ là thấp nhất). Ao hình vuông hoặc hình tròn là tốt nhất. Tuy nhiên, ao hình chữ nhật cũng tốt miễn là có thể tạo được dòng chảy tròn trong ao. Có thể cải thiện dòng chảy trong ao hình chữ nhật hay hình vuông bằng cách đắp đất bo tròn các góc ao.

          Ở ao nuôi năng suất thấp, nhìn chung, người nuôi ít có khả năng thực hiện có hiệu quả việc lưu thông nước trong ao nên chất thải thường không tập trung vào giữa ao. ở những ao nuôi như vậy nên tạo những vùng sạch hẹp ven bờ.

2.2.2, Vị trí đặt máy sục khí

          Máy sục khí có 2 chức năng, nhất là trong ao nuôi thâm canh là tạo dòng nước trong ao và cung cấp thêm ôxy cho ao nuôi. Như đã nêu, vị trí đặt máy sục khí và hình dạng ao nên hài hoà với nhau để tạo ra diện tích đáy ao sạch càng rộng càng tốt, không bị chất thải tích tụ. Khi tôm lớn lên, số lượng máy sục khí cũng tăng theo. Nhưng điều quan trọng là những máy sục khí đặt thêm phải ở những vị trí thích hợp tránh làm xáo trộn các chất thải đã lắng tụ. Vị trí lắp đặt và cách vận hành máy sục khí phù hợp sẽ giúp ích rất nhiều trong quản lý môi trường, chất thải trong ao nuôi.

2.2.3, Kích cỡ ao nuôi

          Ao nhỏ sẽ dễ quản lý hơn nhưng chi phí xây dựng và vận hành cao. Trong hầu hết các trường hợp, ao có diện tích 3000 - 4000 m2 sẽ thuận lợi cho chăm sóc, quản lý, vận hành quạt nước và cho năng suất cao.

          Độ sâu của ao nuôi cũng có ảnh hưởng lớn đến sự xáo trộn các yếu tố môi trường, mật độ nuôi. Trong nuôi tôm thâm canh, bán tham canh cần thiết kế ao đảm bảo giữ được mực nước từ 1,5 m trở lên.

3, Chuẩn bị ao nuôi

          Công việc chuẩn bị ao gồm nhiều khâu đòi hỏi phải thực hiện trước khi đưa ao vào sử dụng lần đầu cũng như trước mỗi vụ nuôi. mục đích chính cuả việc chuẩn bị ao là tạo cho tôm nuôi có được một nền đáy ao sạch, chất lượng nước thích hợp và ổn định.

          Tùy theo điều kiện vùng nuôi, đáy ao mà có thể áp dụng phương pháp cải tạo khô hoặc cải tạo ướt, cũng có thể vừa áp dụng biện pháp cải tạo ướt kết hợp cải tạo khô. Mỗi phương pháp có ưu, nhược riêng, có thể tóm tắt ưu nhược điểm tương đối của phương pháp tẩy dọn khô và tẩy dọn ướt như sau:

Bảng 1: Tóm tắt ưu nhược điểm của cải tạo khô và cải tạo ướt

 

Phương pháp cải tạo khô

Phương pháp cải tạo ướt

Thời gian dọn tẩy

Lâu và không làm được trong mùa mưa

Nhanh chóng và làm được mọi lúc

Chi phí

Tuỳ thuộc vào diện tích ao và thường cao

Tùy thuộc vào diện tích ao

Hiệu quả dọn bỏ chất thải

Không ổn định

Tốt

Dọn tẩy chất thải trong nền đáy cát

Không ổn định

Tốt

Dạng chất thải

Rắn, dễ làm

Bùn lỏng, khó làm

Đất phèn

Phải thực hiện cẩn thận

Ao ít bị phèn hoá hay xì phèn

Khả năng tẩy trùng

Không ổn định

Cần phải bón thêm vôi

Thu gom chất thải

Cần có chỗ đổ

Cần có ao chứa lắng

3.1, Bón vôi

3.1.1,  Các dạng vôi

          Có nhiều dạng vôi được sử dụng trong nuôi tôm, cơ bản là làm tăng khả năng đệm cuả nước ao nuôi và tăng pH.

a, Vôi nông nghiệp/đá vôi hoặc vỏ sò xay (CaCO3)

          Các dạng vôi này thường là đá vôi hay vỏ sò nghiền. Chất lượng của chúng cũng rất khác nhau ví dụ như khi có trộn lẫn đất. Vôi thường được khuyến cáo sử dụng là loại vôi có chứa từ 75% CaCO3 trở lên, đá vôi mịn là thích hợp nhất cho ao nuôi tôm. Loại vôi này được sử dụng để làm tăng khả năng đệm của nước và có thể được sử dụng với số lượng lớn vì nó không gây ảnh hưởng nhiều đến pH nước. Dung dịch 10% vôi trong nước cất phải có pH khoảng 9,0. Lượng vôi thường bón là 100 - 300 kg/ha/lần.

b, Đá vôi đen (CaMg(CO3)2

          Đây là loại đá vôi nghiền khác có chứa ma- nhê (Mg). Loại vôi này được sử dụng chủ yếu là để tăng khả năng đệm của nước và cung cấp ma-nhê. Giống như vôi nông nghiệp, loại vôi này cũng ít ảnh hưởng đến pH cuả ao. Dung dịch 10% vôi trong nước cất phải có pH khoảng 9,0 đến 10,0. Lượng vôi thường bón là 100 - 300 kg/ha/lần. Đá vôi đen, vôi nông nghiệp, đá vôi, bột vỏ sò có khi cũng được gọi là vôi chứa can xi.

c, Vôi tôi hay vôi ngậm nước (Ca(OH)2).

          Loại vôi này được sản xuất bằng cách nung đá vôi ở nhiệt độ 800 - 900oC. sau khi nung thì cho nước vào khi đá vôi còn nóng để cho vôi mịn ra. Vôi được dùng để làm tăng pH nước hoặc đất. Dung dịch 10% vôi trong nước cất phải có pH khoảng 11. Lượng vôi thường bón là 50 -100 kg/ha/lần. Vì vôi toi có thể gây ảnh hưởng đáng kể đến pH nước nên tránh bón vôi cho ao vào buổi chiều khi pH ao thường cao nhất.

d, Vôi sống/vôi nung hay vỏ sò nung (CaO)

          Loại vôi này cũng được sản xuất bằng cách nung đá vôi ở nhiệt độ cao nhưng không cho nước vào. dạng vôi hoạt tính cao này có ảnh hưởng rất lớn đến pH nước nên không dùng để bón cho những ao đang nuôi tôm mà chỉ nên sử dụng để điều chỉnh pH đất khi chuẩn bị ao. Dung dịch 10% vôi trong nước cất phải có pH khoảng 12.

3.1.2, cách bón vôi:

          Sau khi dọn sạch chất thải cần cho một ít nước vào ao để rửa trôi các mảnh vụn đồng thời cũng để kiểm tra độ pH cuả nước. Lượng nước này nên để qua đêm rồi tháo cạn. Có thể lập lại như thế nhiều lần cho tới khi pH ổn định ở mức trên 7.0

          Lượng vôi sử dụng cho ao sau lần tháo rửa cuối cùng tuỳ thuộc vào từng ao. Vôi dùng trong trường hợp này nên là vôi nông nghiệp (CaCO3) hay đá vôi đen (CaMg(CO3)2) để tạo pH và độ kiềm thích hợp nhất. Nên hạn chế lượng vôi bón vào giai đoạn chuẩn bị ao bỡi vì vôi sẽ được bón thêm trong quá trình nuôi. Việc bón vôi trước khi bơm nước vào ao bất tiện ở chỗ nó sẽ giảm hiệu quả cuả việc bón bột tẩy sau này. Nếu nước ao có độ kiềm và pH cao (>80mg CaCO3/L và pH>8) thì không cần bón bất kỳ loại vôi nào trong giai đoạn này (Ao nuôi trên cát không cần bón vôi trong quá trình cải tạo ao).

          Chỉ nên bón vôi tôi (Ca(OH)2) hay vôi sống CaO trong trường hợp đất ao quá phèn (pH<4). Nếu dùng vôi tôi và vôi sống để tăng pH đất ao thì pH nước tăng lên đáng kể khi lấy nước vào ao, điều này đặc biệt thể hiện rõ khi hệ đệm nước ao kém. Hiện tượng pH cao cũng sẽ kéo dài đáng kể và khó điều chỉnh trong ao nuôi thay nước ít.

          Lượng vôi bón khuyến cáo dùng trong giai đoạn chuẩn bị ao tuỳ thuộc vào pH cuả đất và được trình bày ở bảng 2. Độ pH cuả đất có thể đo bằng máy đo pH đất hoặc có thể phơi khô đất trong bóng rấm rồi cho vào nước cất với khối lượng bằng nhau, quậy kỹ cho tan đều và để lắng một đêm, sau đó đo độ pH cuả dung dịch. Theo cách này, có thể sử dụng dung dịch đo pH hoặc giấy đo pH.

          Bảng 2: Lượng vôi  khuyến cáo dùng trong giai đoạn chuẩn bị ao

Độ pH cuả đất

Lượng vôi nông nghiệp (CaCO3) (kg/ha)

Lượng vôi tôi  Ca(OH)2 (kg/ha)

>6

<1.000

300-400

5-6

<2.000

500-800

<5

<3.000

900-1.000

          Vôi cần được rải đều khắp đáy ao kể cả bờ ao. Một phần lớn vôi nên rải ở khu vực cho tôm ăn và các chỗ còn ướt cuả đáy ao. Việc bón thêm sẽ được thực hiện khi lấy nước vào ao

3.2, Chuẩn bị nước

          Mục đích của giai đoạn lấy nước, xử lý nước và bón phân gây màu là để thúc đẩy phiêu sinh vật phát triển tốt và ngăn ngừa các sinh vật khác vào ao nuôi.

          Sau khi bón vôi xong lấy nước đầy vào ao nuôi. Nước cấp vào ao phải được lọc qua lưới mịn (vải Katê) và cấp một lần đầy ao trước khi xử lý và gây màu nước.

          * Gây màu nước: gây màu nước có vai trò rất quan trọng vì:

- Tảo phát triển sẽ tạo ôxy vào ban ngày.

- Làm che khuất nền đáy và ngăn cản sự phát triển của các loài tảo đáy có hại.

- Tạo môi trường tốt hơn giúp tôm ít bị sốc.

- Hấp thu đạm và lân từ chất thải trong ao.

- Lam giảm sự biến động của nhiệt độ nước.

- Tạo thức ăn tự nhiên và động vật đáy ao là nguồn thức ăn rất tốt cho tôm khi mới thả.

Mặc dù tảo phát triển tốt thường có lợi cho ao nuôi, nhưng trong ao nuôi  thay nước ít còn có thể gặp rắc rối do tảo phát triển quá mức vì các chất dinh dưỡng tích luỹ trong ao. Trong những ao này, người nuôi thường sử dụng phân bón để gây màu ít đi nhằm hạn chế tảo phát triển quá mức trong giai đoạn đầu vụ nuôi. ở những ao nghèo dinh dưỡng hơn thì có thể bón thêm phân hữu cơ hay vô cơ để kích thích tảo phát triển.

Tốt nhất nên bón phân, chất gây tảo nhiều lần, không nên bón nhiều cùng một lúc mà phải chia nhỏ ra và nên bón vào lúc 9 –10 giờ sáng để có thể điều chỉnh lượng chất gây tảo phù hợp và để tảo dễ phát triển hơn. Nêu bón quá mức sẽ kích thích tảo phát triển mạnh, phát triển quá mức dễ dẫn đến hiện tượng tảo chết đột ngột, pH tăng cao đột ngột.

Sau vài ngày bón chất gây tảo thường tảo sẽ phát triển trong ao và nước sẽ có màu xanh lá cây nhạt. ở những vùng nước quá trong hoặc phần lớn phiêu sinh vật bị diệt bằng Chlorine khi xử lý nước, tảo sẽ không phát triển kịp trong vài ngày. Cũng có khả năng là do tảo tàn nên trong ao không còn đủ lượng tảo để có thể gây màu trở lại. Trong những trường hợp như vậy, nên cấp một ít nước đã gây màu từ các ao khác và cách làm này chỉ nên áp dụng như là giải pháp cuối cùng và chú ý là ao lấy nước phải có màu và chất lượng nước tốt.

Bón phân bổ sung có thể cần đối với những ao nuôi có dinh dưỡng thấp ví dụ như ao nuôi trên vùng cát. Có thể bón bổ sung từ 5-10% phân so với lượng trung bình. Bón phân là nhằm cung cấp dinh dưỡng cho phiêu sinh vật phát triển. Nếu phiêu sinh vật không phát triển và nước vẫn trong trong suốt quá trình lấy nước thì không nên bón phân nữa. Bón thêm phân nếu sinh vật không phát triển sẽ chỉ kích thích tảo đáy phát triển mà thôi. Trong trường hợp này nên dùng dây xích cào đáy nhằm tránh tảo đáy phát triển đồng thời nhờ việc cào đáy giúp quá trình phân hủy vật chất hữu cơ và tạo điều kiện thuận lợi cho phiêu sinh thực vật phát triển, vịêc làm này đặc biệt hữu ích với các ao nuôi vùng đất cát, ao xử lý nước bằng Chlorin.  ở hầu hết các hệ thống ao nuôi, không thay nước trong tháng đầu tiên sau khi thả tôm là cách hạn chế bón phân bổ sung.

Có một số ao nuôi đã thử dùng thuốc tạo màu để tạo màu giả nhằm hạn chế sự phát triển của tảo. Mặc dù những sản phẩm này có thể ngăn chặn sự phát triển của tảo đáy nhưng chúng lại không có được các ưu điểm như các ao có phiêu sinh thực vật phát triển tốt. Tuy nhiên chúng có thể có ích trong một thời gian ngắn khi phiêu sinh thực vật chưa phát triển kịp. Nồng độ thuốc tạo màu sử dụng phải được cân nhắc sao cho chúng có thể tạo màu để hạn chế được tảo đáy mà lại không ảnh hưởng đến sự phát triển của phiêu sinh thực vật. Khi sử dụng thuốc tạo màu, phải tránh sử dụng vôi và các  hoá chất khác vì chúng có thể làm kết tủa thuốc (mất tác dụng của thuốc tạo màu).

Sau khi lấy nước vào ao và trước khi thả giống, có thể bón thêm vôi nông nghiệp hay vôi đen (Dolomite) cho ao. Mục đích của việc này là duy trì pH trong khoảng từ 7.5 –8.3 và mức biến động không quá 0,5 đơn vị hằng ngày. Lượng vôi bón tuỳ thuộc vào điều kiện của từng ao nhưng thường là 100kg vôi nông nghiệp hay Dolomite/ha/ngày. Nếu pH nước ao dưới 7.5 nên bón thêm vôi tôi (Ca(OH)2) với lượng tương đương.

Có thể tóm tắt các bước tiến hành chuẩn bị ao nuôi như sau:

          Ao trước khi đưa vào nuôi, tiến hành cày, làm phẳng đáy ao, bón vôi từ 500 –800 kg/ha nếu chất đáy là bùn, bùn cát, chất đáy bị nhiễm phèn; đối với chất đáy là cát thì không cần rải vôi (nhằm tránh trường hợp pH cao trong giai đọan trước và ở tháng đầu khi thả tôm). Tiến hành bơm nước vào ao và rửa ao từ 2 –3 lần, nước rửa ao tốt nhất là nước ngọt.

          Sau khi làm phẳng ao tiến hành lắp đặt hệ thống quạt nước, hệ thống quạt nước phải đảm bảo cung cấp đủ ôxy cho tôm, và lắp đặt theo nguyên tắc khi vận hành cho dòng chảy mạnh nhất, điều hòa nhất, tạo được vùng đáy ao sạch/diện tích vùng dơ là cao nhất.

          Sau khi rửa ao và làm phẳng ao tiến hành bơm nước qua túi lọc bằng vải Katê, khi mực nước trong ao đạt từ 0,7 m trở lên tiến hành cào đáy bằng dây xích mỗi ngày 4 –6 giờ nhằm tránh tảo đáy phát triển, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho tảo phát triển. Khi mực nước trong ao đạt 1,2 trở lên tiến hành xử lý mầm bệnh bằng một trong các lọai thuốc/ hóa chất như: Chlorin 30 ppm, thuốc tím 4 – 6 ppm, Iodin 1-1,2 ppm,... sau đó 2 –3 ngày tiến hành gây màu nước bằng các phương pháp thông thường. Sau khi gây màu nước, độ trong đạt từ 40 – 45 cm, tiến hành kiểm tra các yếu tố môi trường nếu đạt yêu cầu thì tiến hành thả giống. Trong trường hợp các yếu tố môi trường không đáp ứng tiêu chuẩn thả giống thì phải tiến hành xử lý cho đến khi điều kiện môi trường đáp ứng tiêu chẩn thả giống thì mới tiến hành thả giống.

4, Chọn giống và thả giống.

          Mục đích của việc chọn giống và thả giống là đưa vào ao một lượng tôm giống phù hợp và có chất lượng tốt nhằm đạt được năng suất ổn định nhất.

Việc chọn con giống có ý nghĩa quan trọng, quyết định phần lớn đến kết qủa nuôi, hiện nay do có rất nhiều nguồn giống khác nhau, chất lượng cũng rất khác nhau, nên khi chọn con giống đưa vào nuôi cần chú ý một số yêu cầu sau:

- Giống có màu sắc sáng đẹp, kích cỡ tương đối đồng đều.

- Kích cỡ tôm khi thả phải đạt: Pl 12 trở lên.

- Tôm không nhiễm mầm bệnh.

- Giống có nguối gốc Hawaii, mua tại những công ty có uy tín, có chứng nhận xuất xứ nguồn giống, chứng nhận được con giống được sản xuất bằng nguồn bố mẹ SPF hay SPR (sạch bệnh hoặc kháng bệnh).

          Thả giống: Việc thả tôm chân trắng cũng tương tự như tôm sú, tuy nhiên điểm khác ở đây là mật độ nuôi, do thời gian nuôi ngắn (trung bình 3,0 tháng) và kích cỡ thu họach nhỏ (từ 60 –100 con/kg) do đó để nuôi đạt hiệu quả cao cần thả nuôi mật độ từ 100 – 150 con/m2. tuy nhiên việc quyết định thả nuôi với mật độ bao nhiêu còn tuỳ thuộc vào các yếu tố như:

- Điều kiện môi trường tự nhiên vùng nuôi (ví dụ đặc điểm về thổ nhưỡng, chất lượng nước, khí hậu).

  • Sự sẵn có, chất lượng và giá thành thức ăn.
  • Sự sẵn có, chất lượng và giá con giống
  • Số ao nuôi có trong khu vực (liên quan đến chất lượng nguồn nước).
  • Kiểu thiết kế và cấu trúc ao
  • Trang thiết bị
  • Những biến đổi theo mùa (điều kiện khí hậu thời tiết).
  • Cỡ tôm thu hoạch dự kiến
  • Kinh nghiệm của người quản lý

5, Thức ăn và phương pháp cho ăn

          Hiện nay, trên thị trường đã có thức ăn chuyên dùng cho tôm chân trắng, do vậy trong quá trình nuôi tôm chân trắng chúng ta nên sử dụng thức ăn này để nuôi tôm chân trắng, cũng có thể sử dụng các lọai thức ăn lọai cho tôm sú để nuôi tôm chân trắng nhưng cần lưu ý một số điểm sau: chỉ chọn những lọai thức ăn nào có độ đạm không cao (thấp hơn 38%) và nên rút ngắn thời gian hết sàng so với khi cho ăn bằng thức ăn chuyên dùng cho tôm chân trắng khoảng 15 –30 phút.

          * Phương pháp cho ăn - quản lý cho ăn:

          Quản lý cho ăn là một trong những khâu quan trọng nhất để nuôi tôm thành công, vì thức ăn là một trong những thứ đầu tư cao nhất. Chi phí thức ăn chiếm khoảng 45 –50% chi phí sản xuất đối hệ thống nuôi thâm canh, bán thâm canh. Mục tiêu của nghề nuôi tôm là phải bền vững và khả năng lợi nhuận cao nhất. Tuy nhhiên, không phải lúc nào cũng nghĩ đến việc cho ăn để được sản lượng tối đa. Chẳng hạn nếu không trao đổi được nước cho ao nuôi thì có thể giảm khẩu phần cho ăn để lưu giữ tôm chờ tới khi giá cã khá hơn. Cho ăn dư không những gây lãng phí thức ăn mà góp phần làm ô nhiễm ao nuôi. ở mô hình nuôi năng suất thấp, người nuôi thường hạn chế cho ăn để giảm giá thành và tận dụng nguồn thức ăn tự nhiên trong ao.

* Xác định lượng thức ăn mỗi ngày

          Phương pháp xác định lượng thức ăn hàng ngày chủ yếu có mấy cách như sau:

          - Căn cứ vào số lượng tôm và trọng lượng tôm để tính ra lượng thức ăn hằng ngày, theo công thức sau:

          Tổng trọng lượng tôm = trọng lượng trung bình X số tôm (số tôm thực tế trên cơ sở số lượng giống thả và ước lượng tỷ lệ sống theo thời gian nuôi)

          Căn cứ vào trọng lượng trung bình và tổng trọng lượng tôm xác định được lượng thức ăn hằng ngày: trong tình trạng bình thường, tôm cỡ 1-5g, cho ăn bằng 7-10% trọng lượng thân; tôm 5-10, cho ăn 4-7% trọng lượng đàn tôm; tôm 10-20 g, cho ăn 3-4% trọng lượng thân.

          - Thời gian và lượng thức ăn thả mỗi lần

          Theo đặc điểm của tôm chân trắng thì tôm chân trắng có tập tính kiếm ăn và ban đêm là chủ yếu, tuy nhiên trong nuôi nhân tạo thì cho thấy tôm ăn thường xuyên cả ngày lẫn đêm, tuy nhiên khi nuôi với hình thức thâm canh thì vào giai đoạn tôm lớn (sau 2 tháng nuôi) thì môi trường ao nuôi dễ bị ô nhiễm, lượng ô xy hoà tan thường thấp, tôm thường lột xác đồng loạt vào ban đêm nên vào giai đoạn này tôm thường ăn chậm vào ban đêm (không phải do tập tính mà do điều kiện môi trường chi phối). Do vậy trong giai đoạn này chúng ta cần lưu ý tập trung cho tôm ăn vào ban ngày, ban đêm chỉ cho ăn 01 lần và lượng thức ăn cũng nên chỉ bằng 30 -50 % so với lượng thức ăn cho ăn mỗi lần vào ban ngày.

          * Phương thức cho ăn:

          Tôm chân trắng trong ao không bơi thành đàn để tìm thức ăn mà tìm ăn rải rác trên mặt bờ (bãi) ao. Vì thế, cơ bản là phải rải thức ăn đều khắp ao.

          Trong giai đoạn tháng đầu thả nuôi, khả năng hoạt động cuả tôm còn kém, sự phân bố trong ao chưa đều đặn, do cá thể khá nhỏ, lượng thức ăn rất ít, chủ yếu dựa vào thức ăn tự nhiên có trong ao để sinh trưởng. Thức ăn tự nhiên trong ao không đủ, cần bổ sung thêm thức ăn công nghiệp, cần phải quan sát tỉ mỉ trạng thái tôm, sự phân bố cuả tôm để điều chỉnh lượng cho ăn và cách cho ăn phù hợp (quan sát màu phân, đường ruột, tôm phát triển nhanh hay chậm,…). Làm như vậy tôm con vừa ăn được thức ăn, chất lượng nước không bị ô nhiễm. Khi tôm càng lớn phạm vi cho tôm ăn càng rộng ra. Khi tôm đạt 4-5cm, lượng thức ăn rải quanh bờ khoảng 60% và 40% rải phần tiếp giáp với giữa ao. Khi tôm đạt 6-7cm, tôm đã phân bố gần như đều khắp ao, khả năng hoạt động mạnh  do vậy lượng thức ăn rải gần như khắp ao. Tuy niên do ảnh hưởng cuả dòng chảy nên khu vực giữa ao sẽ gom tụ chất thải nên khi cho ăn cần đảm bảo diện tích vùng cho ăn là lớn nhất song phải tránh vùng gom tụ bùn trong ao.        

5.1 Cho tôm ăn trong tháng đầu.

          Khẩu phần ăn của tôm tính theo phần trăm trọng lượng thân sẽ giảm dần trong chu kỳ nuôi, vì càng lớn tôm ăn thức ăn với khẩu phần ăn càng thấp hơn. Nghĩa là khẩu phần ăn của tôm mỗi ngày so với thể trọng của nó sẽ giảm dần.

          Lượng thức ăn cho tôm ăn trong tháng đầu được căn cứ vào mức tăng trọng hằng ngày cuả tôm. nếu tôm thả nuôi từ PL12 thì định lượng lượng thức ăn ban đầu là 1,5 - 2,0kg/100.000 con (tuỳ vào lượng thức ăn tự nhiên có trong ao) và mức tăng thức ăn hàng ngày được tính theo bảng sau:

Bảng 3: ước lượng thức ăn tháng đầu

Giai đoạn tôm

Lượng thức ăn tăng hàng ngày cho 100.000 con tôm (g)

Tỷ lệ sống ước lượng

Năng suất thấp

Năng suất cao

Tuần 1

200

200 -300

100

Tuần 2

250

300-350

100

Tuần 3

300

350 -400

100

Tuần 4

350

400

>95%

          Đến tuần thứ 2 bắt đầu thả sàng và tập cho tôm vào sàng, sang tuần thứ 4 việc điều chỉnh thức ăn dựa vào thức ăn trong nhá còn hay hết để điều chỉnh.

          Số lần cho ăn: 3- 4 lần/ngày, 4lần vào các thời điểm: 7h, 11h, 16h và 21h;

Bảng 4: chương trình sử dụng thức ăn nuôi tôm chân trắng hiệu Hi - Po (có giá trị tham khảo)

Chương trình cho ăn tháng đầu tiên (100.000 con)

Tuổi tôm (ngày)

Tổng thức ăn sử dụng trong ngày (kg)

Lượng thức ăn tăng lên trong ngày (kg)

Tổng lượng thức ăn đã sử dụng (kg)

Mã số thức ăn

1

2

 

2

01

2

2.3

0.3

4.3

01

3

2.6

0.3

6.9

01

4

2.9

0.3

9.8

01

5

3.2

0.3

13.0

01

6

3.5

0.3

16.5

01

7

3.8

0.4

20.3

01+02

8

4.2

0.4

24.5

01+02

9

4.6

0.4

29.1

01+02

10

5.0

0.4

34.1

01+02

11

5.4

0.4

39.5

02

12

5.8

0.5

45.3

02

13

6.3

0.5

51.6

02

14

6.8

0.5

58.4

02

15

7.3

0.5

65.7

02

16

7.8

0.5

73.5

02

17

8.3

0.6

81.8

02

18

8.9

0.6

90.7

02

19

9.5

0.6

100.2

02

20

10.1

0.6

110.3

02

21

10.7

0.6

121.0

02+03

22

11.3

0.7

132.3

02+03

23

12.0

0.7

144.3

02+03

24

12.7

0.7

157.0

02+03

25

13.4

0.7

170.4

02+03

26

14.1

0.7

184.5

03

27

14.8

0.8

199.3

03

28

15.6

0.8

214.9

03

29

16.4

0.8

231.4

03

30

17.2

0.8

248.5

03

 

Bảng thức ăn này có lẽ sẽ là khá cao nếu như tôm trong ao không phát triển như dự định. Do vậy đây chỉ là bảng thức ăn mang tính chất tham khảo nhiều hơn, vấn đề quan trọng là người nuôi tôm phải biết quan sát tỉ mỉ tình trạng tôm, thức ăn tự nhiên trong ao để có những điều chỉnh phù hợp.

          Bảng 5: Lượng thức ăn trong một ngày tính theo trọng lượng tôm (đối với thức ăn hiệu Hi-Po) như sau: (có giá trị tham khảo)

Tuổi tôm (ngày)

Trọng lượng tôm (g/con)

% thức ăn/trọng lượng

Mã số thức ăn

Tỷ lệ thức ăn bỏ trong vó (g/1 kg thức ăn)

Thời gian kiểm tra vó

Số lần cho ăn/ngày

1

-

Theo chương trình cho ăn tháng đầu tiên

01

-

-

4

10

-

01+02

-

-

4

20

-

02

1

2.5

4

30

2.5

7.0

03

1

2.5

4

40

3.5

5.0

03+03-p

1

2.5

4

50

5.0

4.0

03-p

1

2.5

5

60

7.5

3.5

03-p+04-p

1

2.5

5

70

9.5

3.3

04-S

2

2.0

5

80

12.0

3.0

04-S

2

2.0

5

90

15.0

2.8

04-S+04

2

2.0

5

100

17.5

2.5

04

3

2.0

5

110

20.0

2.3

04+05

3

2.0

5

120

22.0

2.1

04+05

3

2.0

5

130

25.0

2.0

05

3

2.0

5

1. Lượng thức ăn trong ngày (TATN)

                             % thức ăn

TATN (kg)  =                           x Trọng lượng đàn tôm (kg)

                                  100

2. Thức ăn trong một sàng (g)

Thức ăn trong bữa (kg) x % sàng x 16.000

                                      Diện tích ao (m2)

         

Ghi chú :

- Khi tôm được 10 ngày tuổi nên thả sàng vào ao nuôi để tôm làm quen.

- Việc bỏ thức ăn trong sàng nên căn cứ vào trọng lượng tôm và kiểm tra sàng một cách chặt chẽ.

- Việc chuyển đổi mã số thức ăn nên căn cứ vào trọng lượng tôm để làm tiêu chuẩn (theo bảng) không dựa vào tuổi tôm (ngày).

- Giai đoạn tôm từ 1 đến 50 ngày tuổi cho tôm ăn 4 lần/ngày vào các thời điểm 7, 11, 16 và 21 giờ.

- Giai đoạn tôm từ 50 ngày tuổi trở đi cho tôm ăn 5 lần/ngày vào các thời điểm 6, 10, 14, 18 và 22 giờ.

- Trong thời gian chuẩn bị chuyển đổi mã số thức ăn, nên trộn chung cả hai loại thức ăn để sử dụng ít nhất 3 ngày.

- Khi tôm được 50 ngày tuổi, nên chài kiểm tra tôm cứ 5 - 7 ngày một lần để kiểm tra tỷ lệ tăng trưởng của tôm có đạt tiêu chuẩn không và tình trạng tôm.

- Chất lượng nước, nhiệt độ, hàm lượng ôxy hòa tan và chu kỳ lột xác … cũng ảnh hưởng đến cường độ bắt mồi của tôm.

- Đối với tôm chân trắng: khi cho ăn chỉ nên bổ sung thêm Vitamin C và men đường ruột vào thức ăn mà không cần bổ sung thêm bất kỳ thuốc bổ, thức ăn bổ sung nào khác vào thành phần thức ăn.

5.2 sàng ăn 

Sử dụng sàng ăn là rất quan trọng để kiểm tra việc cho ăn. Sàng ăn phản ánh khả năng sử dụng thức ăn, sức khoẻ và tỷ lệ sống của tôm và cả điều kiện nền đáy ao.

Sàng ăn thường là một tấm lưới mịn với một khung có gờ cao không quá 5 cm. Diện tích sàng ăn thường 0,4 -0,5m2 đối với sàng hình tròn (đường kính 70 -80 cm) và 0,64 m2 đối với sàng hình vuông (cạnh 0,8 x 0,8cm). Số lượng sàng ăn khoảng 01 cái cho 1.600 m2. sàng ăn nên đặt sát đáy ao, nơi sạch sẽ, nước chảy không quá mạnh và hơi xa bờ.

Trong tháng đầu bổ sung thêm sàng ăn vào giữa ao nếu tôm tập trung giữa ao. Thức ăn cần làm ẩm, cho vào sàng và hạ từ từ xuống đáy ao. Nếu làm không cẩn thận khi hạ sàng ăn thì hầu hết thức ăn có thể bị trôi ra khỏi sàng ăn trước khi sàng xuống tới đáy ao. Nên thường xuyên rửa các sàng ăn để chúng chìm xuống nhanh chóng.

Bảng 6: Số lượng sàng ăn tính theo cỡ ao như sau:

Kích cỡ ao (ha)

Số sàng ăn

0,5

4

0,6 -0,7

5

0,8-1

6

2

10 -12

 Cho khoảng 20 -30g thức ăn vào mỗi sàng ăn ở mỗi lần cho ăn trong tháng đầu (khoảng 1% lượng thức ăn cho ăn vào mỗi sàng cho ăn), tháng thứ 2, 3 lượng thức ăn cho vào mỗi sàng khoảng 2% (ví dụ khi cho ăn 10 kg/lần, thì mỗi sàng cho ăn bỏ vào 200g). Thời gian kiểm tra sàng ăn khi tôm đạt từ 2 -5 gam/con là 2,0 - 2,5 giờ, từ 5 -7g/con là 1,5 -2,0 giờ, từ 8 g/con đến thu hoạch là từ 1-1,5 giờ. Căn cứ vào lượng thức ăn còn, hết mà điều chỉnh lượng thức ăn vào lần cho ăn kế tiếp.

* Các yếu tố ảnh hưởng đến sàng ăn:

Việc ước lượng chính xác tỷ lệ sống của tôm có thể đạt được vào cuối tháng thứ 2 sau khi thả giống bằng cách lặp lại nhiều lần việc tính toán tỷ lệ sống. Có một số yếu tố khác ngoài tỷ lệ sống có ảnh hưởng đến việc tôm sử dụng thức ăn trong sàng, các yếu tố ảnh hưởng chính là:

          - Chất lượng nước giảm

          - Điều kiện nền đáy ao xấu

          - Bệnh

          - Các sinh vật canh tranh xuất hiện trong ao

          - Chất lượng thức ăn

          - Chu kỳ lột xác

          - Nhiệt độ và độ măn

Tất cả những điều kiện này cùng với những yếu tô khác có thể làm giảm sức ăn cuả tôm từ ngày này sang ngày khác. Vì vậy, điều quan trọng là phân biệt được tỷ lệ sống hay các yếu tố nào khác đã ảnh hưởng đến việc sử dụng thức ăn của tôm.

* Sự suy thoái chất lượng nước:

bất kỳ sự suy giảm nào về chất lượng nước cũng có thể làm giảm sức ăn của tôm, ví dụ:

- Sau khi phiêu sinh thực vật suy tàn làm ôxy hoà tan giảm và sinh ra nhiều chất thải cuả quá trình phân huỷ.

- Sau thời gian dài không thay nước.

- Sau những cơn mưa lớn làm tăng độ đục và giảm pH nước ao.

- Sau một thời gian dài nắng yếu làm giảm cường độ quang hợp cuả tảo dẫn đến lượng ôxy hoà tan thấp.

Khi bất kỳ một trong các trường hợp kể trên xảy ra sẽ làm giảm sức ăn cuả tôm và làm suy giảm đáng kể chất lượng nước. Giảm lượng thức ăn sử dụng, sẽ không làm tăng được khả năng sử dụng thức ăn của tôm mà tốt hơn nên cải thiện chất lượng nước trừ khi phần lớn tôm trong ao đã chết.

* Nền đáy ao xấu đi

Sự xấu đi cuả nền đáy ao có thể dẫn đến chất lượng nước kém và gây bệnh cho tôm. Tuy nhiên, nó cũng gây ra các ảnh hưởng trực tiếp. Nếu như phần diện tích sạch ở đáy ao giảm sẽ làm tăng số lượng tôm đến sàng ăn và tôm ăn hết thức ăn trong sàng nhanh hơn. Cũng có thể có trường hợp ngược lại, nếu các sàng ăn đặt ở nơi dơ bẩn trong ao thì số tôm đến sàng ăn cũng sẽ giảm.

Thường có nhiều dấu hiệu khác xuất hiện trên tôm cũng cho biết chất lượng nước xấu như màu sắc bất thường ở mang, vỏ bẩn, phồng đuôi, ăn lẫn nhau và phụ bộ bị thương. Nếu có nghi ngờ về sự xấu đi của nền đáy ao thì nên lội khăp ao để xem chất lượng chất thải tích tụ và sự phân bổ cuả chúng ra sao.

* Bệnh:

Sự bùng nổ dịch bệnh nghiêm trọng thường có liên quan tới sự xấu đi về các điều kiện chất lượng nước và nền đáy. Trong hầu hết các trường hợp sẽ thấy thêm các dẫn liệu về tình trạng sức khoẻ tôm kém đi, chẳng hạn, tôm nổi lên mặt ao hay tập trung quanh bờ. Kiểm tra bên ngoài tôm hay phân tích ở phòng thí nghiệm sẽ giúp tìm ra nguyên nhân của bệnh.

Giảm lượng cho ăn có thể không làm tăng mức độ sử dụng thức ăn trong các sàng, mà một số trường hợp việc cải thiện chất lượng nước có thể mang lại hiệu quả tốt hơn.

* Sinh vật canh tranh trong ao:

- Trước đây người ta thường thấy nhiều loại sinh vật khác cùng chung sống với tôm nuôi trong ao như ghẹ, những loài tôm khác, cá và nhuyễn thể. Sự hiện diện cuả các sinh vật này hiện không còn phổ biến trong ao nuôi tôm do người nuôi tôm đang cố gắng hạn chế khả năng chúng mang mầm bệnh vào ao nuôi tôm. Nếu có các sinh vật khác xuất hiện trong ao, chúng còn sử dụng thức ăn của tôm làm cho người nuôi nhầm tưởng là cho tôm ăn thiếu. các sinh vật cạnh tranh còn có thể ăn tôm dẫn đến tỷ lệ sống của tôm thấp.

* Chất lượng thức ăn

Có nhiều vấn đề liên quan đến chất lượng thức ăn có tác động đến sự sử dụng thức ăn trong sàng ăn. nếu người nuôi thay đổi loại thức ăn và kết cấu thức ăn khác thường thì tôm phải mất vài ngày để làm quen với loại thức ăn mới và hậu quả là người nuôi dễ bị nhầm lẫn khi quan sát sàng ăn. Nếu thức ăn không hấp dẫn tôm thì chúng sẽ không ăn thức ăn như thường lệ.

* Chu kỳ lột vỏ

Sự tiêu thụ thức ăn cuả tôm thực sự giảm vào những ngày trước và sau lột vỏ. Mặc dù tôm trong ao không thường lột vỏ đồng loạt nhưng thỉnh thoảng cũng xảy ra (ví dụ khi thay nước, khi có biến động môi trường). Trong hệ thống nuôi năng suất thấp, tôm thường lột xác tập trung vào lúc trăng tròn và thường trùng vào thời điểm thay nước nhiều nhất. Trong trường hợp này tôm sẽ ăn bình thường sau khi lột vỏ và cũng có các dấu hiệu khác là có tôm mềm vỏ trong ao và có vỏ tôm trong ao. Có nhiều người nuôi cho tôm ăn 60% lượng thức ăn khi thấy tôm lột xác đồng loạt trong ao. Sự thay đổi lượng thức ăn phải dựa vào các dẫn liệu thu từ sàng cho ăn.

* Nhiệt độ

Nhiệt độ cũng có ảnh hưởng đến bắt mồi cuả tôm. nếu nhiệt độ cao hơn 32 -33oC hay thấp hơn 22OC thì mức độ bắt mồi có thể giảm 30 -50%. Nhiệt độ thay đổi đột ngột sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng đến tôm hơn là thay đổi từ từ.

6, Chăm sóc quản lý

6.1, Một số yếu tố thủy lý - thủy hóa trong môi trường ao nuôi có liên quan mật thiết đối với tôm.

          Muốn quản lý một ao nuôi tôm có hiệu qủa cần phải có những thông tin đặc trưng về các yếu tố môi trường như : Nhiệt độ, độ mặn, pH, độ kiềm, độ trong, màu nước, ôxy hòa tan...với các số liệu đo hàng ngày và sự biến đổi của nó trong ao nuôi.

a, Nhiệt độ:

          Nhiệt độ có ảnh hưởng trực tiếp đến qúa trình trao đổi chất bên trong cơ thể tôm, ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp đến sự lột xác, liên quan đến khả năng bắt mồi và sự sinh trưởng của tôm. Nhiệt độ tối ưu cho tôm sinh trưởng từ 28 - 320C, nếu nhiệt độ cao hơn 330C hoặc thấp hơn 220C khả năng bắt mồi của tôm giảm đi 30 - 50%. Để khắc phục được sự ảnh hưởng của nhiệt độ nước, biện pháp kỹ thuật tốt nhất là nâng cao mực nước trong ao từ 1,2 m trở lên.

          b, Độ mặn:

          Tôm chân trắng có thể chịu đựng được sự biến thiên độ mặn rất lớn, chúng có thể thích nghi được với độ mặn từ 0,5- 450/00. Độ mặn thích hợp nhất cho tôm nuôi phát triển từ 10 -250/00. Tôm chân trắng có thể điều tiết được độ mặn trong một giới hạn nhất định, nhưng nếu thay đổi qúa đột ngột thì chúng rất dễ bị nhiễm bệnh và chết.

          c, pH:

          pH là chỉ tiêu cho biết qúa trình sinh học và hóa học xảy ra trong ao nuôi, nó là một chỉ thị quan trọng đánh gía chất lượng nước. pH thích hợp cho tôm dao động từ 7,5 -8,8.  pH < 6 hoặc > 9,5 sẽ gây ảnh hưởng đến sinh trưởng của tôm. Sự biến động của pH hàng ngày trong ao phụ thuộc rất lớn vào sự phát triển của tảo. Vào thời điểm 14 -16 giờ trong ngày cường độ quang hợp của tảo mạnh  giá trị của pH đạt cao nhất, Vào ban đêm khi không có ánh sáng mặt trời giá trị pH xuống thấp nhất. Khi pH trong ao quá cao, tức là tảo phát triển quá mạnh, khi đó cần phải có biện pháp khống chế tảo để tránh tảo phát triển qúa mức sẽ bị tàn nhanh làm ô nhiễm ao nuôi. Khi pH xuống thấp chứng tỏ tảo phát triển kém, cần cung cấp dinh dưỡng cho tảo phát triển.

          d, Ôxy:

          ¤xy là một yếu tố rất cần thiết cho hoạt động hô hấp của tôm và các sinh vật sống trong ao. Nếu ôxy thiếu tôm sẽ có biểu hiện giảm ăn, chậm lớn, mang tôm có màu hồng. Nếu tình trạng thiếu ôxy kéo dài tôm sẽ bị nổi đầu chết hàng loạt. Hiện nay thiết bị dùng để cung cấp ôxy hòa tan trong ao đó là các loại máy quạt nước, máy thổi ôxy đáy. Tuỳ theo mật độ thả nuôi, thời gian nuôi mà có biện pháp bố trí và vận hành máy quạt nước cho phù hợp đảm bảo cung cấp đầy đủ ôxy trong ao, vừa giảm được chi phí sản xuất ôxy hòa tan trong ao còn liên quan mật thiết đến sự  phát triển của tảo, hàm lượng các chất hữu cơ trong ao. Khi tảo phát triển tốt vào ban ngày do quá trình quang hợp sẽ cung cấp một lượng lớn ôxy hòa tan trong ao, vào ban đêm tảo lại sử dụng ôxy cho qúa trình hô hấp, do đó ôxy thường giảm thấp vào ban đêm nên cần tăng cường các loại máy cung cấp ôxy ở những thời điểm này. Cung cấp đầy đủ ôxy trong ao còn tạo điều cho các vi sinh vật có lợi phát triển thúc đẩy qúa trình phân hủy các chất hữu cơ làm sạch đáy ao.

          đ, Độ trong - màu nước:

          Độ trong - màu nước là hai yếu tố có liên quan đến sự phát triển của tảo, nó  chi phối đến nhiều yếu tố như : nhiệt độ nước, pH, ôxy hòa tan...do đó thực chất của qúa trình điều khiển môi trường là điều kiển hai yếu tố độ trong và màu nước. Độ trong phù hợp nhất cho tôm phát triển từ 25 - 40cm. Khi độ trong cao >40cm chứng tỏ tảo trong ao phát triển chậm, cần cung cấp thêm dinh dưỡng cho tảo phát triển. Nếu độ trong thấp < 25cm tảo phát triển qúa mạnh sẽ làm cho pH tăng cao, ôxy giảm vào ban đêm, và dễ có nguy cơ tảo tàn hàng loạt gây ô nhiễm môi trường, do đó cần có biện pháp khống chế sự phát triển của tảo như thay nước, bón vôi...Ngoài ra hàng ngày cần theo dõi sự thay đổi của màu nước trong ao để đánh giá sự phát triển của tảo, từ đó có thể dự đoán được biện pháp xử lý trước khi có tình huống xấu xảy ra.

          Ngoài một số yếu tố cơ bản trên, trong nuôi tôm cũng cần theo dõi thêm một số yếu tố như : độ kiềm, hàm lượng khí NH3, khí H2S.  Chúng tôi xin giới thiệu bảng chỉ tiêu các yếu tố môi trường phù hợp trong nuôi tôm chân trắng như sau :

Bảng 7 : Một số chỉ tiêu phù hợp cho nuôi tôm chân trắng

Thông số môi trường

Giới hạn tối ưu

Đề nghị

Nhiệt độ

28 -320C

Dao động trong ngày < 50C

pH

7,8 - 8,5

Dao động trong ngày < 0,5

Độ mặn

10 - 25%o

Dao động trong ngày < 10/00

Ôxy hòa tan

4 - 7 mg/lít

Không được < 3mg/lit

Độ trong

25 - 40cm

30 –35 cm

Độ kiềm

80 - 200mg/lít

 Tùy thuộc vào tuổi tôm

Khí H2S

< 0,02mg/lít

Độc hơn khi pH thấp

Khí NH3

< 0,1 mg/lít

Độc hơn khi pH và nhiệt độ cao

6.2, Quản lý môi trường

          - Quản lý môi trường ao nuôi: Thường xuyên sử dụng các lọai vôi (vôi toi, super can xi, Dolomite) và men vi sinh để ổn định pH, độ kiềm, màu tảo, không sử dụng thuốc hóa chất trong quá trình xử lý môi trường ao nuôi tôm chân trắng. Ao nuôi tôm chân trắng thường xảy ra hiện tượng độ kiềm tụt đột ngột do tôm lột xác đồng lọat, do vậy cần thường xuyên sử dụng các lọai vôi để xử lý môi trường ao nuôi vào ban đêm, tốt nhất cứ mỗi 2-3 ngày nên tạc vôi một lần.

          - Chế độ quạt nước: đối với ao nuôi tôm chân trắng cần tăng cường chế độ quạt nước và quạt nước mạnh hơn so với tôm sú nhằm đáp ứng đủ nhu cầu ôxy cho tôm phát triển, chế độ quạt nước cụ thể như sau:

          - Để đảm bảo nhu cầu ôxy, cần phải lắp đủ số lượng cách quạt, vận hành đủ thời gian theo độ tuổi tôm và chạy quạt nước đủ mạnh, đủ thời gian.

          - Số cánh quạt cần thiết/10 vạn giống: từ 10 –15 cánh.

          - Số giờ chạy quạt theo thời gian nuôi như sau:

Bảng 8: Số giờ quạt nước theo thời gian nuôi:

Thời gian nuôi

Số giờ quạt nước

Thời gian quạt

Tháng thứ nhất

6

Sáng: 9 h-10h; chiều: 15 –16 h; tối: 19h-21h; Khuya: 3h-5h

Tháng thứ 2

12-14

Sáng: 9 h-11h; chiều: 14 –16 h; tối: 18h30-21h; Khuya: 23h-6h

Tháng thứ 3 đến thu họach

14-16

Sáng: 9 h-11h; chiều: 14 –16 h; tối: 18h-21h; Khuya: 22h-7h

          Thường xuyên theo dõi tình trạng tôm, tính ăn, các yếu tố môi trường để có biện pháp xử lý kịp thời.

          Cứ 7 ngày một lần tiến hành cân kiểm tra tăng trọng của tôm, nếu tôm có mức tăng trọng trung bình nhỏ hơn 0,15g/ngày cần phải kiểm tra các yếu tố liên quan để xác định nguyên nhân và có biện pháp xử lý thích hợp.

- Thay nước: Chủ yếu áp dụng nuôi theo qui trình bán thâm canh ít thay nước nhằm trách rủi do do mầm bệnh xâm nhập từ ngoài vào. Chỉ áp dụng thay nước khi nào thật cần thiết, như phải xử lý môi trường, chủ yếu là thêm nước, lượng nước thay hằng ngày từ 20-30%, nước trước khi thay hay thêm vào ao phải xử lý triệt để mầm bệnh tại ao chứa lắng và xử lý.   

6.3, Các biện pháp quản lý môi trường

a, Cấp và thay nước: Chế độ cấp và thay nước trong nuôi tôm bán thâm canh và thâm canh hiện nay thực hiện theo phương pháp nuôi tôm ít thay nước hoặc phương pháp tuần hoàn khép kín. Việc cấp và thay nước không theo một chế độ nhất định, phụ thuộc vào chất lượng nước trong ao nuôi và ngoài môi trường. Chỉ nên thay nước khi các yếu tố thuỷ hoá trong ao nằm trong khoảng không phù hợp cho tôm, đặc biệt khi dao động pH trong ngày quá lớn. Nước cấp trước khi đưa vào ao phải được lắng lọc ở ao chứa lắng, hoặc khi nguồn nước lấy vào có nguy cơ mang mầm bệnh thì phải xử lý bằng hóa chất trước khi cấp vào ao nuôi. Mỗi lần thay nước không nên thay vượt  quá 30% lượng nước trong ao.

b, Cần tăng cường độ sâu trong trong ao theo thời gian nuôi từ 1,0 - 1,4 m nhằm ổn định môi trường, tạo độ thông thoáng cho tôm, hạn chế sự phát triển của thực vật đáy.

          c, Sử dụng thường xuyên các loại vôi nông nghiệp có công thức CaCO3 định kỳ 7 - 10 ngày/lần với lượng 15 - 20 kg /1000 m2/lần  để tăng hệ đệm, ổn định pH, ổn định môi trường. Đặt biệt những ngày có mưa, thời tiết thay đổi cần tăng cường sử dụng loại vôi này.

          d, Đối với những ao tảo phát triển chậm, độ trong cao có thể sử dụng vôi nông nghiệp Dolomite với lượng 5 -10kg/1000m2/lần vào thời điểm 8 –9 giờ sáng. Còn đối với những ao khó gây màu, chất đáy nghèo dinh dưỡng, ngoài việc sử dụng Dolomite cũng cần tăng cường bón phân gây màu. Có thể sử dụng phân NPK bón với lượng 1,0 –1,5 kg/1000m2/lần.

          đ, Đối với những ao tảo phát triển quá mạnh, pH tăng cao trước hết cần thay một phần lượng nước trong ao sau đó áp dụng các biện pháp sau :

- Có thể sử dụng vôi tôi Ca(OH)2 xử lý ao với lượng 5 -7kg/1000m2/lần vào buổi tối lúc 21 –22 giờ.

- Dùng đường cát hòa tan vào nước tạt đều xuống ao với lượng 2 –3 kg/1000m2 vào lúc 9 -10 giờ sáng và mở máy sục khí mạnh.

          g, Đối với ao nuôi từ sau 2 tháng trở lên sử dụng định kỳ các loại khoáng chất  7-10 ngày / lần  với lượng 5 -10 kg/1000m2/lần  sẽ làm cải thiện được nền đáy ao, giảm thiểu các loại khí độc  giúp tôm lớn nhanh và phòng được một số bệnh do môi trường như : đen mang, phồng mang, vàng mang...  

          h, Sử dụng chế phẩm sinh học thường xuyên trong suốt vụ nuôi có tác dụng phân huỷ các chất hữu cơ, chất thải từ thức ăn thừa, phân tôm, kìm hãm sự phát sinh các khí độc NH3, H2S, tạo sự ổn định và cân bằng sinh thái môi trường ao nuôi.Chế phẩm sinh học còn có tác dụng ức chế sự phát triển của các vi khuẩn gây bệnh, tăng cường ôxy hoà tan.

i, Tăng cường quạt nước. Đây là biện pháp không thể thiếu trong quá trình nuôi. Máy quạt nước được bố trí và vận hành sao cho đạt hiệu quả cao nhất, vừa cung cấp đầy đủ ôxy vừa làm sạch đáy, gom các chất thải vào giữa ao, tạo độ thông thoáng đều trong ao.     

7, Phòng bệnh

          áp dụng biện pháp phòng bệnh chung dựa trên nguyên tắt quản lý tổng hợp các yếu tố: tác nhân gây bệnh, quản lý môi trường ao nuôi và tăng cường sức khỏe cho tôm, trong đó vấn đề quan tâm hơn cả là quản lý môi trường ao nuôi. các yếu tố môi trường đặc biệt là pH, pH: 7,5 –8,8, dao động trong ngày không quá 0,5; DO >4,0ppm; Độ kiềm: >80mg/l; Độ cứng từ 4000 – 5000mg/l.

8, Thu họach và tiêu thụ sản phẩm

          Với mật độ nuôi 80 -100 con/m2, sau thời gian nuôi từ 75-80 ngày, tôm nuôi có thể đạt trọng lượng từ 80 –100con/kg lúc này chúng ta có thể thu họach tòan bộ để tiêu thụ, trong trường hợp cần nuôi size tôm từ 70 –80 con/kg cần  phải giảm mật độ nuôi bằng cách thu bớt một phần, phần còn lại tiếp tục nuôi thêm một thời gian nữa để thu họach được sản lượng và hiệu quả ao hơn. Tuy nhiên cần chú ý rằng khi tôm đạt trong lượng 20g/con sẽ có tốc độ sinh trưởng chậm lại, do vậy không nên kéo dài thời gian nuôi tôm chân trắng khi đã đạt kích cỡ trung bình 20g/con.

9, Một số nhận xét

9.1, Những thuận lợi

- Bước đầu cho thấy tôm chân trắng thích nghi tốt ở vùng nuôi tôm trên cát An Hải, Ninh Phước.

- Kỹ thuật nuôi tương đối dễ dàng, người nuôi tôm sú có thể nắm bắt nhanh kỹ thuật nuôi tôm chân trắng sau 01 vụ nuôi.

- Thời gian cho một chu kỳ nuôi ngắn (2,5 tháng), chi phí đầu tư thấp hơn nuôi tôm sú. Giá thành 01 kg tôm dao động từ 32 –35.000đ/kg.

- Đã có thức ăn công nghiệp chuyên dùng cho tôm chân trắng sản xuất tại Việt Nam.

- Hiện nay, tôm chân trắng chủ yếu tiêu thụ nội địa nhưng giá cao hơn tôm sú từ 2000 – 3000đ/kg (tôm cùng kích cỡ). Các đại lý thu mua, chế biến tôm sú xuất khẩu có thể tham gia thu mua tôm chân trắng.

- ở nước ta một số cơ sở đã chủ động sản xuất được giống tôm chân trắng chất lượng cao như có thể sản xuất được với số lượng lớn, giá giống không cao được người nuôi chấp nhận, chất lượng con giống có thể kiểm soát được thông qua nhập con giống bố mẹ “sạch”và “kháng bệnh”. Hiện nay giá tôm giống dao động từ 30 -50đ/con tùy vào thời điểm và nhà cung cấp.

9.2, Một số hạn chế

 Tuy nhiên việc phát triển nuôi tôm chân trắng có thể gặp phải một số khó khăn sau:

+ Tôm chân trắng có mầm bệnh TSV, WSSV, YHV và IHHNV đặc biệt là bệnh do vi rút TSV gây ra.

+ Tôm chân trắng có kích cỡ nhỏ hơn tôm sú nên giá bán thấp và sức cạnh tranh trên thị trường thế giới sẽ thấp hơn tôm sú.

+ Thị trường tiêu thụ: Năng lực cạnh tranh về thị trường tiêu thụ tôm chân trắng của Việt Nam không có ưu thế hơn một số nước khác trên thế giới mà đặc biệt là Trung Quốc. Nên khi phát triển nuôi tôm chân trắng cần chú trọng thị trường trong nước, liên kết với các cơ sở tiêu thụ sản phẩm để ổn định giá bán.

* Có thể tóm tắt một số ưu và nhược điểm của tôm chân trắng so với tôm sú như sau:

Bảng 9: Một số ưu nhược điểm của tôm chân trắng so với tôm sú

Đặc điểm

Ưu điểm

Nhược điểm

Tăng trưởng

Tôm chân trắng tăng trưởng nhanh hơn tôm sú lúc còn nhỏ hơn 20g, tôm chân trắng có thể tăng trưởng 1,5g/tuần so với 1g/tuần ở tôm sú. Cỡ thu hoạch tôm chân trắng nhỏ hơn tôm sú.

Tôm chân trắng tăng trưởng chậm khi đạt trên 20g.

Mật độ nuôi

Tôm chân trắng có thể nuôi ở mật độ rất cao (60 -150 con/m2 và có thể đến 400 con/m2). Năng suất nuôi cao có thể đến 12 tấn/ha/vụ.

Nuôi mật độ cao phải quản lý tốt môi trường ao nuôi và có thể gặp nhiều rủi ro

Chịu đựng độ mặn

Tôm chân trắng chịu được độ mặn rộng (0,5 - 450/00) và có thể nuôi sâu vào trong vùng nước ngọt hơn so với tôm sú

Không

Chịu đựng nhiệt độ

Tôm chân trắng chịu đựng nhiệt độ thấp tốt (< 150C), vì thế có thể nuôi vào vụ Đông, vùng lạnh.

Không

Nhu cầu chất đạm

Tôm chân trắng có nhu cầu chất đạm thấp hơn (20 -35%) so với tôm sú (38 - 40%), hệ số thức ăn thấp khoảng 1,2 so với 1.6 của tôm sú vì thế có thể giảm đi chi phí sản xuất và thuận lợi hơn cho các hệ thống sản xuất kín (tuần hòan)

Không

Khả năng kháng bệnh

Mặc dù mẫn cảm với bệnh đốm trắng, nhưng tôm thẻ chân trắng được nghiên cứu đề kháng một số vi rút. Tỷ lệ sống của tôm chân trắng luôn cao hơn so với tôm sú nuôi ở Châu á

Tôm chân trắng có mầm bệnh TSV, WSSV, YHV, IHHNV. Tôm sú kháng với TSV và IHHNV

Cho đẻ và gia hóa

Tôm chân trắng có thể nuôi vỗ thành thục trong ao, tôm đã được gia hóa qua nhiều thế hệ và cải thiện về di truyền. Đã sản xuất được con giống SPF (sạch bệnh đặc thù) và SPR (kháng bệnh đặc thù), tôm bố mẹ rẻ,....

Thỉnh thoảng gặp trở ngại về tỉ lệ hao hụt cao của tôm SPF và tôm mẹ nuôi vỗ đòi hỏi kỹ thuật phức tạp nếu so với đánh bắt tôm sú ngòai tự nhiên

Ương ấu trùng

Tỉ lệ sống của tôm trong giai đoạn ương ấu trùng cao hơn tôm sú

Không

Thị trường

Thị trường tiêu thụ chủ yếu là Mỹ và thị trường nội địa ở các quốc gia Châu á đang gia tăng. Tỉ lệ thịt của tôm chấn trắng cao (66 - 68%) hơn so với tôm sú (62%)

Tôm sú nuôi có kích thước lớn hơn nên giá bán cao. Sẽ có cạnh tranh cao về thị trường vì tôm đang phát triển nuôi khắp thế giới.

 

Phần III

BỆNH TÔM

          Những trở ngại do bệnh đã gây thiệt hại rất lớn về tài chính trong nghề nuôi tôm biển nói chung. ít nhất từ 20 năm qua, đa số thừa nhận rằng, bệnh ở động vật xảy ra thường là do sự tương tác giữa vất chủ có tính mẫn cảm  trong điều kiện môi trường xấu, cùng với sinh vật gây bệnh có sẵn trong môi trường. Hiểu rõ nguyên nhân xuất hiện bệnh là điều kiện cần thiết để kiểm soát chúng.

          Trước hết chúng ta phải biết bệnh là gì?, vì sao chúng xuất hiện; phát hiện bệnh bằng cách nào và xử lý hay nói cách khác là phòng và trị bệnh bằng cách nào.

1, Bệnh là gì?

          Bệnh là sự bất thường nào đó trong cấu tạo hay chức năng cuả cơ thể động vật. Điều này có nghĩa bệnh không chỉ là yếu tố lây nhiễm mà còn gồm cả vất đề dinh dưỡng và môi trường làm ảnh hưởng đến năng suất. Trong nhiều trường hợp, từ “bệnh” được dùng một cách không chính xác khi chỉ được dùng để án chỉ những vấn đề  lây nhiễm.

2, Vì sao bệnh xuất hiện?

          Trong hầu hết các trường hợp, bệnh bộc phát là do sự kết hợp cuả nhiều yếu tố. Ngay cả khi bệnh truyền nhiễm bộc phát, thì nguyên nhân không phải chỉ đơn thuần là do sự hiện diện cuả vi khuẩn hay vi rút. Trên thực tế, sự hiện diện của mầm bệnh trong cơ thể tôm  không nhất thiết là tôm đang bị bệnh.

          Hầu hết bệnh ở tôm nuôi là sự kết hợp cuả các điều kiện môi trường xấu ma hậu quả là làm hại hoặc làm giảm khả năng kháng bệnh ở tôm. Hầu hết các ao nuôi luôi có sẵng những mầm bệnh lợi dụng cơ hội này để gây bệnh cho tôm. bệnh tôm thường do nhiều nguyên nhân kết hợp gây ra, nên việc phòng ngừa và xử lý bệnh nhất thiết phải được xem xét cả trên cơ thể tôm, mầm bệnh và môi trường nuôi.

          Xử lý bệnh phải đi đôi với việc cải thiện môi trường. Chỉ đơn thuần xử lý bệnh bằng hoá chất rất ít khi có hiệu quả. Ví dụ như bệnh vi khuẩn ở tôm xảy ra là do tôm bị tác động bất lợi cuả các yếu tố môi trường xấu. Nếu sử dụng kháng sinh để trị mà không cải thiện môi trường thì sẽ không có hiệu quả, vì chỉ những con tôm khoẻ mới bắt mồi khi thuốc được trộn vào thức ăn. Ngay cả trong trường hợp tôm nhận được thuốc kháng sinh để trị vi khuẩn gây bệnh trên tôm, thì hàm lượng thuốc giảm, tôm sẽ bị nhiễm bệnh trở lại.

3, Phát hiện bệnh

          Khi bệnh đã xuất hiện thì đã quá trễ để xử lý. Cho nên, điều cần thiết là phải quản lý ao nuôi một cách hiệu quả nhằm hạn chế tối đa cơ hội xuất hiện bệnh. Dấu hiệu bệnh thường được phát hiện trên một số ít tôm nuôi, vì thế, phải thường xuyên kiểm tra tôm để phát hiện bệnh ở giai đoạn sớm nhất. Việc phát hiện ra bệnh rất khó khăn, trừ khi có hiện tượng tôm chết hàng loạt. Mục đích cuả công việc này là xác định được bệnh ở giai đoạn sớm nhất, nhằm có biện pháp kịp thời trước khi năng suất tôm nuôi bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Trong hầu hết các trường hợp, không thể phát hiện bệnh từ một mẫu tôm nào đó từ một trại nuôi cho dù có phân tích rất nhiều chỉ tiêu. Điều cần thiết ở đây là cần theo dõi đàn tôm trong suốt quá trình nuôi. Phát hiện được bệnh ở giai đoạn sớm thường dựa vào những ghi nhận trong sản xuất (bao gồm thức ăn tôm sử dụng và sinh trưởng), chất lượng nước và những biểu hiện sinh lý trên cơ thể tôm. Điều này chỉ có thể thực hiện được nếu như trại nuôi có số liệu theo dõi đàn tôm trong suốt quá trình nuôi.

          Người ta cho rằng, có thể nhận biết sự hiện diện cuả mầm bệnh thông qua những dấu hiệu bên ngoài cuả tôm. Tuy nhiên, đây chỉ là một trong những trường hợp hiếm hoi nào đó. Trong hầu hết các trường hợp, những dấu hiệu bên ngoài cuả tôm bệnh giống nhau lại liên quan đến nhiều mầm bệnh khác nhau. Ngay khi sự nhiễm bệnh có thể xác định thông qua  những dấu hiệu bên ngoài cuả tôm, điều này cũng không nói lên được bất cứ điều gì về môi trường nơi xảy ra bệnh ấy. Nhiều khi, các dấu hiệu bên ngoài, chỉ cho biết một cách mơ hồ về tình trạng sức khoẻ của tôm, trừ khi chúng biết được những biểu hiện đang biến đổi như thế nào. Nếu như không theo dõi tôm thường xuyên thì sẽ không thể biết được có nhiều hay ít tôm bị đói hoặc nhiều hay ít tôm bị lở loét.

          Việc xác định mầm bệnh hay định danh bệnh thường có ý nghĩa rất ít đối với nông dân. Ví dụ, nếu như có một nông dân nói rằng tôm cuả ông ta bị bệnh do MBV, điều đó không giúp ich gì được cho ông ta trong việc cải thiện năng suất nuôi. Biện pháp duy nhất mà ông ta có thể là là giảm “sốc” cho tôm, bằng cách cải thiện môi trường  nhưng rất có thể là ông ta đang quản lý môi trường với hết khả năng cuả mình. Do không có cách nào để phòng ngừa hay chế ngự bệnh MBV, nên việc xác định bệnh MBV không giúp ích gì được cho nông dân trong trường hợp này.

          Điều này không có nghĩa là việc xác định mầm bệnh thì không có tác dụng nào hết. Nếu như biết có sự hiện diện cuả một mầm bệnh rất nghiêm trọng nào đó, chẳng hạn bệnh virus đốm trắng chẳng hạn, thì giải pháp duy nhất là thu hoạch càng nhanh càng tốt. Vì thế xác định được mầm bệnh sớm sẽ giúp người nuôi giảm thiểu những mất mát. Tuy nhiên, cũng phải cân nhắc kỹ lưỡng có nên thu hoạch khẩn cấp hay không. Thất thoát do thu hoạch khẩn cấp phải tương xứng với khả năng mất trắng cả vụ nuôi. Nguyên nhân là do sự thay đổi hình thức biểu hiện của nhiều loại bệnh tôm. Ví dụ như vào năm 1995, sự hiện diện của những đốm trắng có liên quan đến bệnh đốm trắng  thường báo hiệu sẽ có nhiều tôm chết trong một tuần sau. Hai năm sau, người ta nhận thấy sự xuất hiện cuả những đốm trắng không nhất thiết là bệnh đốm trắng sẽ bộc phát nghiêm trọng. Nguyên nhân của sự thay đổi này vẫn chưa được làm rõ, tuy nhiên, người nuôi không nên căn cứ vào dấu hiệu bệnh mà quyết định thu hoạch sớm.

          Xác định mầm bệnh cũng giúp ta biết được tình trạng sức khoẻ chung cuả đàn tôm nuôi. Điều quan trọng là biết được các chế độ quản lý có ảnh hưởng đến mức độ nhiễm bệnh ở trong ao nuôi hay không. Do đó, những thông tin về mức độ nhiễm bệnh có thể dùng làm cơ sở để cải tiến công tác quản lý. Việc nghiên cứu về mầm bệnh trong phòng thí nghiệm lại có thể cho những hữu ích khác. Nếu một sự nhiễm khuẩn nào đó được phát hiện, người ta có thể kiểm tra mức độ nhạy cảm cuả vi khuẩn với các loại kháng sinh để tìm ra thuốc trị bệnh hữu ích nhất. Tuy nhiên, khi có được những thông tin đó, thường là quá trễ để xử lý bệnh cho vụ đang nuôi, nhưng có thể dùng để chọn lực cách xử lý có hiệu quả hơn cho các ao khác hoặc cho các vụ sản xuất về sau.

          Một trong những ý nghĩa quan trọng cuả việc xác định mầm bệnh là cung cấp những dẫn liệu về tình trạng bệnh tật của đàn tôm trong một trại hay cả một vùng nuôi rộng lớn nào đó. Điều này có thể giúp làm giảm bới sự nhiễm bệnh lan tràn và cung cấp thông tin cần thiết nếu như đây là một sự nhiễm bệnh mới. Điều này đã từng được chứng minh khi bệnh đầu vàng lần đầu tiên xuất hiện tại Thái lan. Loại bênh do vi rút cực kỳ nguy hiểm này đã được xác định và đã có nhiều biện pháp ngăn ngừa nhanh chóng được áp dụng. Những giải pháp như vậy có lẽ không thể có được nếu không có những dẫn liệu chi tiết về sự xuất hiện bệnh trong khu vực, để phát hiện bệnh cần có các căn cứ sau:

          3.1 Quan sát ở bờ ao: Nếu phiêu sinh vật phát triển, chất lượng nước và tôm đều ở trong điều kiện tốt, thì kể từ tuần nuôi thứ ba sẽ không nhìn thấy tôm nữa. Khi tôm bị ảnh hưởng cuả môi trưòng xấu hoặc bị bệnh, chúng thường nổi lên mặt nước hoặc tập trung ven bờ. Khi quan sát thấy tôm ở ven bờ hay gần mặt ao thì sự cố đã nghiêm trọng. Vì thế, cần phát hiện sớm những dầu hiệu khác thường cuả tôm thông qua sàng ăn hoặc chài.

          Người ta nghĩ rằng tôm nổi đầu lên mặt ao hay ven bờ vì nước có hàm lượng ôxy cao. Trong nhiều trường hợp, tôm nổi lên mặt ao hay ven bờ cũng là để tránh hàm lượng chất độc cao ở đáy ao. Kiểm tra các ao nuôi vào ban đêm và lúc sáng sớm là rất quan trọng vì tôm bệnh sẽ nổi lên mặt nước hoặc ven bờ rất nhiều vào những lúc này.

          Khi thấy tôm tập trung ven bờ thì nên kiểm tra đáy ao để xem có tôm chết hay không, nhất là ở khu vực đặt máy sục khí, ở giữa ao nơi có tích tụ cặn bã và quanh cống thaót nước.

          3.2 Quan sát tôm lúc thu mẫu: Kiểm tra kỹ các mẫu tôm thu được từ các sàng ăn hoặc qua các lần chài sẽ thu được nhiều thông tin chi tiết trước khi phát hiện tôm bị bệnh. Điều đáng nhớ là dấu hiệu bệnh trước tiên ở tôm thường là sự thay đổi màu sắc, đóng rong và sau đó là tôm giảm ăn, vì vậy thông qua sàng ăn có thể biết dấu hiệu ban đầu cuả bệnh. Cùng với việc ghi nhận thức ăn thừa trên sàng ăn, cũng nên quan tâm đến hiện tượng tôm không có thức ăn trong đường ruột.

          Nên quan sát tôm trong sàng ăn trong vòng một giờ sau khi cho ăn. Tôm vào sàng ăn sẽ thay đổi sau khi cho ăn. Trong hầu hết các ao nuôi, tôm thường cạnh tranh nhau chỗ ăn tốt. Những con tôm yếu thường phải ăn ở những chỗ ăn xấu hơn những con khoẻ. Người nuôi thường rải thức ăn đều khắp ao sau đó mới cho thức ăn vào sàng ăn. Vì thức ăn rải xuống đáy ao trước, nên những con tôm khoẻ sẽ ăn trước và những con yếu chỉ có thể ăn trong sàng ăn. Nhưng khi thức ăn dưới đáy ao hết, những con khoẻ lại vào ăn trong sàng và hiện tượng này thường xảy ra khoảng một giờ rưỡi sau khi cho ăn.

          Cần phải lưu ý đến hiện tượng bị chiếm chỗ cuả tôm yếu khi thu mẫu bằng chài. Tôm yêú thường xuất hiện chung quanh chỗ bẫn cuả đáy ao hoặc ven bờ nơi có nhiều chất thải tích tụ.

          Để xác định được ao nuôi có sự cố ở giai đoạn sớm nhất, cần phải kiểm tra sức khoẻ tôm trong những tình huống sau đây:

          + Tôm giảm ăn

          + Tảo tàn

          + Sau khi trời mưa to

          + Những ngày trời u ám

          + Nhiệt độ thấp

          + Chất lượng nước xấu

          + Hoặc các điều kiện bất lợi khác.

* Những dấu hiệu bệnh

- Màu sắc tôm:  

          Thông thường màu sắc cuả tôm sẽ liên quan với các điều kiện môi trường chúng sống. Chẳng hạn, ở những ao cạn và trong, tôm thường sậm màu hơn tôm ở ao sâu hoặc nước ít trong hơn. Sự thay đổi về màu sắc cũng có thể là một dấu hiệu về sức khoẻ. Tôm yếu thường chuyển sang màu xanh da trời khác biệt với màu xanh lá cây bình th7ờng. Màu xanh da trời cũng có thể là do di truyền hay do điều kiện dinh dưỡng  và tôm bình thường sẽ có màu xanh da trời ngay sau khi lột xác. Tôm yếu có thể trở nên đỏ, nhất là phụ bộ và chân đuôi. Có vài nguyên nhân gây ra màu đỏ, đó là do sự phóng thích sắc tố caroten  bỡi sự huỷ hoại gan tuỵ và dĩ nhiên tôm chết thường có màu đỏ. Tôm còi hay chậm lớn thường có vết đỏ hoặc trắng dài dọc lưng do sự tập trung cuả sắc tố. ở tình trạng bình thường, sắc tố này sẽ bị loại bỏ trong quá trình lột xác.

          Hầu hết các vết thương ở tôm sẽ chuyển sang màu đen hay màu nâu, sau một thời gian ngắn. Đó là do sự sinh ra sắc tố đen hay nâu sậm còn gọi là ‘melanin” độc đối với vi sinh vật và có thể bảo vệ tôm khỏi bị nhiễm trùng. Chẳng hạn, các phụ bộ cuả tôm khi bị tôm khác cắn sẽ biến thành màu đen ở phần cuối và những chỗ bị nhiễm khuẩn trên vỏ cũng biến thành màu đen.

          Ngoài sự chuyển biến màu đen, có một số trường hợp không bình thường khác có thể ảnh hưởng đến các phụ bộ. Phụ bộ có thể bị cong hoặc bị gãy và đuôi có thể sưng phồng lên như vậy thường là hậu quả của sự nhiễm trùng do đáy ao bị ô nhiễm bỡi chất thải.

- Hiện tượng mềm vỏ: Một dấu hiệu khác thường thấy là tôm bị mềm vỏ hay mềm vỏ kinh niên. Thông thường vỏ tôm cứng lại trong vòng 24 giờ sau khi lột. Nếu vỏ không cứng được, nó sẽ nhăn nheo biến dạng và trở nên mẫn cảm hơn với các bệnh nhiễm trùng bề mặt. Có nhiều nguyên nhân gây bệnh mềm vỏ được trình bày sau.

- Hiện tượng đóng rong: Một trong những dấu hiệu thông thường nhất của tình trạng tôm  có sức khỏe kém là hiện tượng đóng rong tức là sự phát triển của các sinh vật trên bề mặt cơ thể tôm. Khi các sinh vật bám trên vỏ tôm chúng sẽ thu hút những chất vẩn cặn và làm cho bề ngoài vỏ tôm có màu xanh rêu hoặc màu bùn.

- Những biến đổi ở mang: Tôm khỏe thường giữ mang của chúng rất sạch. Nhưng khi tôm bệnh hay lờ đờ, thì việc tự làm sạch mang của chúng ít thường xuyên hơn và chúng để mặc cho các sinh vật gây bẩn và chất cặn bã bám vào, làm mang tôm có màu nâu nhìn thấy được qua vỏ giáp. Nếu mang thật sự bị tổn thương, chúng sẽ chuyển sang màu nâu hay đen do sự tích tụ sắc tố đen “melanin”. Tuy nhiên, đôi khi màu đen xuất hiện trên mang hoặc bên trong vỏ giáp cũng có thể là do các muối sắt tích tụ lại. Mang tôm có màu hồng thường thấy ở tôm sống trong nước có hàm lượng ôxy hòa tan rất thấp (<3 mg/l) hoặc hàm lượng chất độc như NH3 cao. Sự thay đổi màu sắc của mang xuất hiện trước hết ở những con tôm sống ở đáy ao, nơi có hàm lượng ôxy thất nhất, hoặc ở ven bờ khi ôxy xuống thấp hơn.

- Những biến đổi ở ruột: Ruột tôm rỗng một phần hay hoàn toàn là dấu hiệu tôm đã bỏ ăn. Điều này có thể do tôm thiếu thức ăn, do môi trường bất lợi hay do sức khỏe yếu.

          Ruột tôm cũng có thể có màu trắng hơn hay đỏ hơn so với màu bình thường của thức ăn viên. Màu đỏ có thể là do tôm ăn những động vật không xương sống có màu đỏ như giun nhiều tơ chẳng hạn. Nếu ruột có màu đỏ mà không có dấu vết gì của giun nhiều tơ trong ruột thì đó là dấu hiệu cho biết có nhiều tôm đã chết và chúng đã ăn xác tôm  chết.

          Màu sắc của hệ gan tụy cũng có thể thay đổi và nguy hiểm nhất là màu vàng mà ta gọi là bệnh đầu vàng, mặc dù biểu hiện bên ngoài cũng tương tự như ở một số điều kiện không đặc thù khác. Hoặc ở bệnh Vibrio mãn tính hay bệnh hoại tử gan tụy, gan tụy sẽ bị teo lại cũng như bị đổi màu.

- Những biến đổi ở cơ: Ngay sau khi lột xác hay trong tình trạng đói kéo dài, cơ bụng của tôm sẽ không lấp đầy vỏ giáp. Điều này cũng gặp ở tôm mắc những bệnh mãn tính làm giảm  ăn. Nếu cơ không choán hết vỏ giáp nhưng ruột có đầy thức ăn thì có thể tôm đang phục hồi hoặc vừa mới lột. Trái lại, bệnh mãn tính thường có thêm những dầu hiệu khác về tình trạng sức khỏe kém.

          Thịt tôm có thể trở nên đục do nhiều lý do như hiện tượng tôm bị “sốc” cấp tính, bị nhiễm vi bào tử hoặc trong những trường hợp của hội chứng cơ co rút mà người ta cho rằng do tôm bị “sốc” trong khi đánh bắt hoặc dinh dưỡng không thích hợp. Cơ cũng có thể hình thành những vết thương đen hoặc nâu. Sự nhiễm khuẩn mãn tính cục bộ sẽ gây nên những vết thương đen trong cơ hay còn gọi là bệnh “mảng đen”. Tình trạng cơ thoái hóa đối xứng hai bên và có màu nâu cũng hay gặp ở tôm khi thu hoạch nhưng nguyên nhân gây ra thì chưa được biết rõ.

4, Các loại bệnh thường gặp và cách phòng trị  

4.1, Bệnh đầu vàng (YHV)

4.1.1, Tác nhân gây bệnh:

          Bệnh đầu vàng gây ra bởi virus đầu vàng (YHV). Hiện nay người ta đã xác định nó không thuộc Baculovirus. YHV chỉ là một RNA sợi đơn hình que được bao bọc bởi bào chất virus gần giống với các virus thuộc họ Coronavus.

4.1.2, Vật chủ:

          Tôm sú Penaeus monodon, tôm he nhật bản P. japonicus, tôm chân trắng  P. vannamei.

4.1.3, Phân bố địa lý:

          Vi rus đầu vàng gây bệnh cho tôm nuôi ở châu á, bao gồm Trung Quốc, ấn Độ, Philippin và Thái Lan. Ngoài ra còn tìm thấy trên tôm nuôi ở Texas. Chưa có công bố tại Việt Nam.

4.1.4, Dấu hiệu bệnh lý:

Tôm chết 2 - 4 ngày sau khoảng thời gian ăn mồi nhiều khác thường và kết thúc bằng việc đột ngột ngừng ăn. Tôm có thể chết 100% trong vòng 3 - 5 ngày. Tôm bị bệnh tập trung ở rìa ao hoặc gần mặt nước. Gan tụy tôm bị đổi màu làm cho phần đầu ngực có màu vàng nhạt - đó cũng là tên của bệnh. Toàn bộ thân tôm có màu nhợt nhạt khác thường. Tôm hậu ấu trùng ở 20 - 25 ngày tuổi hoặc lớn hơn rất dễ bị bệnh, trong khi tôm PL < 15 ngày lại kháng được bệnh.

Tuy nhiên triệu chứng lâm sàng không phải luôn xuất hiện và việc không xuất hiện các triệu chứng lâm sàng không phải là không nhiễm virus đầu vàng.

4.1.5, Các kiểu lan truyền bệnh:

          Bệnh thường được cho là lan truyền theo phương nằm ngang. Tuy nhiên những tôm sống sót sau khi bị bệnh đầu vàng vẫn duy trì lây nhiễm mản tính cận lâm sàng và được cho là lan truyền theo phương thẳng đứng đối với những cá thể này.

4.1.6, Các biện pháp phòng bệnh:

          Hiện nay vẫn chưa có biện pháp chữa trị tôm bị bệnh đầu vàng. Tuy nhiên, có nhiều biện pháp phòng bệnh được nêu ra nhằm giảm lây lan. Những biện pháp đó như sau:

          - Tôm bố mẹ cần được kiểm sơ bộ đối với virus bệnh đầu vàng.

          - Các cá thể bị nhiễm bệnh và con cháu chúng sẽ bị tiêu diệt bằng phương pháp tiệt trùng.

          - Kết hợp tẩy trùng thiết bị và nước nuôi.

          - Loại bỏ những vật có khả năng truyền bệnh đầu vàng kiểm sơ bộ tôm PL trước khi thả vào ao.

          - Sau khi thả, để ngăn chặn việc lan rộng các sinh vật truyền bệnh, nguồn nước dùng cho các lần thay nước cần phải lọc hoặc xử lý trước ở trong các ao chứa.

          - Tránh làm thay đổi nhanh pH hoặc kéo dài giai đoạn có ôxy hòa tan thấp (<2 ppm). Điều này có thể gây bùng phát bệnh đầu vàng ở mức dưới gây chết. Độ kiềm không nên dao động quá 0,5/ngày và tránh để nước có pH > 9. Những biến đổi về độ mặn không hề làm bùng phát bệnh.

          - Tránh dùng thức ăn thủy sản tươi trong ao nuôi tôm thịt, bể nuôi thành thục và các thiết bị ương, trừ khi thức ăn đã được tiệt trùng.

          Nếu xảy ra bùng phát bệnh thì phải xử lý ao bị bệnh bằng dung dịch Chlorine 30 ppm để diệt tôm và các vật có tiềm năng mang bệnh. Cần thu gom tôm và các động vật khác bị chết để chôn vùi hoặc tiêu hủy. Nếu không thể loại bỏ chúng thì cần phơi khô kỹ ao trước khi thả giống mớiếu xảy ra bùng phát bệnh thì phải xử lý ao bị bệnh bằng dung dịch Chlorine 30 ppm để diệt tôm và các vật có tiềm năng mang bệnh. Cần thu gom tôm và các động vật khác bị chết để chôn vùi hoặc tiêu hủy. Nếu không thể loại bỏ chúng thì cần phơi khô kỹ ao trước khi thả giống mới.

          Nếu ao đột nhiên nhiễm bệnh thì có thể thu hoạch khẩn cấp. Nước thải cần được bơm vào ao bên cạnh để tiệt trùng bằng Chlorine và giữ ít nhất trong 4 ngày trước khi tháo đi. Tất cả các chất thải khác cần được chôn vùi hoặc tiêu hủy.

4.2, Bệnh hoại tử vỏ dưới và cơ quan tạo máu do nhiễm trùng (ihhnv)

4.2.1, Tác nhân gây bệnh

Bệnh hoại tử vỏ dưới và cơ quan tạo máu do nhiễm trùng (IHHNV) gây ra bỡi virus không bao gắn kết, virus gây bệnh nhiễm trùng vỏ dưới và hoại tử (IHHNV), có đường kính trung bình 22nm.

4.2.2, Vật chủ gây bệnh

          IHHNV gây bệnh cho nhiều loài tôm thuộc họ Panaeidae nhưng hình như không gây bệnh cho các loài cua. Đã có thông báo nhiễm bệnh tự nhiên ở một số loài tôm như Tôm chân trắng, tôm sú, tôm he nhật bản, và một số loài tôm nuôi khác.

4.2.3, Phân bố

Bệnh IHHNV xuất hiện ở tôm Penaeid nuôi và hoang dã vùng Trung Mỹ, Ecuado, ấn Độ, Indonesia, Mãlaisia, Philippin, Peru, Đài Loan, Trung Quốc và Thái Lan. ở Việt Nam chưa công bố có bệnh này.

4.2.4, Dấu hiệu lâm sàng

Đối với tôm chân trắng virus IHHN thường chỉ gây ra bệnh mãn tính còn gọi là “hội chứng dị hình còi cọc”, tỷ lệ dị hình còi cọc có thể lên đến từ 30% -90% so với đàn tôm.

4.2.5, các kiểu lan truyền

Một vài cá thể của quần thể tôm chân trắng còn sống sau khi bị nhiễm virus IHHN hoặc bị dịch có thể truyền nhiễm cận lâm sàng theo phương nằm ngang cho các đàn tôm nuôi khác hoặc theo phương thẳng đứng, nếu dùng chúng làm tôm bố mẹ.

4.2.6, các biện pháp kiểm soát

Có thể áp dụng các biện pháp diệt virus IHHN trong những tình huống nuôi thuỷ sản nhất định. Các phương pháp này phụ thuộc vào việc diệt đàn tôm nhiễm bệnh, tiệt trùng các thiết bị nuôi, tránh tái nhiễm virus (từ những thiết bị nuôi xung quanh, tôm tự nhiên,..) và việc tái tạo đàn tôm giống sạch bệnh virus IHHN từ những tôm bô mẹ sạch virus IHHN.

4.3. Bệnh đốm trắng (WSSV)

4.3.1, Tác nhân gây bệnh

          Tác nhân gây bệnh đốm trắng là virus gây hội chứng đốm trắng (WSSV).

4.3.2, Vật chủ

          Bệnh đốm trắng có số lượng vật chủ khá lớn. Bệnh bùng phát được thông bao lần đầu tiên từ trại nuôi tôm he Nhật Bản ở Nhật và sự lây nhiễm tự nhiên sau đó đã quan sát thấy ở nhiều loài tôm trong đó có tôm chân trắng.

4.3.3, Phân bố địa lý

          Bệnh đốm trắng lần đầu tiên được thông báo ở Đài Loan - Trung quốc và Trung Quốc lục địa vào năm 1991-1992, ở Nhật vào năm 1993 từ tôm nhập khẩu của Trung Quốc. Sau đó cũng phát hiện thấy bệnh ở các nơi khác của châu á như: Trung Quốc, ấn độ, Indonesia, Hàn Quốc, Malaysia, Đài Loan, Thái lan và Việt Nam.

4.3.4, Dấu hiệu lâm sàng

Bệnh đốm trắng bùng phát thường được đặc trưng bỡi việc chết nhiều và nhanh của đàn tôm bị nhiễm bệnh sau khi có biểu hiện lâm sàng. Tôm bị bệnh cấp tính có biểu hiện biếng ăn, và chết, có lớp vỏ mềm với nhiều đốm trắng (có đương kính 0,5-2mm) ở hai bên sườn vỏ tôm. Những đốm này ở trong lớp vỏ và không thể loại bỏ bằng việc chà sát. Tôm sắp chết cũng có thể biến màu từ hồng sang đỏ. Các loài tôm nhạy cảm khi đã có các biểu hiện lâm sàng thì dễ dàng bị chết nhiều. Triệu chứng bệnh học kết hợp với sự phá huỷ hệ thống mô ngoại bì và trung bì của mang và các mô dưới lớp vỏ.

4.3.5, Các kiểu lan truyền:

          Hiện nay bệnh do virus đốm trắng lan truyền theo hai đường, đó là đường hàng ngang và hàng dọc.

4.3.6, Các biện pháp kiểm soát bệnh

Hiện vẫn chưa có biện pháp chữa trị tôm bị nhiễm virus đốm trắng, tuy nhiên đã có nhiều biện pháp phòng ngừa để hạn chế việc lây lan.

          Với các cơ sở sản xuất tôm PL người ta đề nghị là tôm bố mẹ tự nhiên cần được kiểm tra sơ bộ bệnh đốm trắng bằng kỹ thuật Nested - PCR. Bất kể cá thể nào bị bệnh. kể cả thế hệ sau cũng cần phải tiêu huỷ  bằng các biện pháp vệ sinh và tất cả các thiết bị đã bị ô nhiễm cũng như nước nuôi phải được tiệt trùng. Người ta cũng đã đề xuất là tôm sú bố mẹ cần được kiểm tra bệnh đốm trắng sau khi đẻ nhằm tăng khả năng phát hiện virus.

          Khi nuôi lớn, tôm PL cần được kiểm tra sơ bộ để phát hiện virus bệnh đốm trắng bằng kỹ thuật nested-PCR, bằng cách sử dụng  một lượng lớn tôm Pl  nhằm đảm bảo phát hiện các lây nhiễm có ý nghĩa. Cách lấy mẫu là chọn những con yếu để kiểm tra, việc này sẽ làm tăng khả năng phát hiện các mẻ tôm bị bệnh.

          Trong quá trình nuôi việc thay đổi nhanh nhiệt độ nước, độ cứng và độ mặn hoặc giảm mức ôxy (<2ppm) trong giai đoạn dài có thể gây ra bùng phát bệnh đốm trắng ở tôm đã nhiễm cận lâm sàng. Hiện vẫn chưa biết liệu thay đổi lớn của giá trị pH trong ngày đêm có thể làm bùng phát bệnh đốm trắng không nhưng nếu ao có pH ổn định thì nhìn chung tôm ít bị sốc. Không nên dùng thức ăn có nguồn gốc động vật thuỷ sản tươi hoặc tươi qua ướp đông để nuôi tôm thịt, nuôi thành thục và ương ấp trừ khi thức ăn đó đã được tiệt trùng bằng tia gama hoặc thanh trùng (giữ ở 70oC trong 10 phút).

          Bất cứ ao nuôi nào bị bệnh cũng cần phải được thanh trùng ngay bằng Chlorin 30 ppm để diệt tôm bệnh và tất cả các vật mang bệnh khác. Tôm và các động vật chết khác cần được dọn sạch và chôn vùi hoặc tiêu huỷ. Nước phải được lưu giữ ít nhất 4 ngày trước khi thải đi. các chủ ao bên cạnh cần được thông báo ngay và không được thay nước ít nhất 4 ngày sau khi nước được thao khỏi ao có tôm bệnh nếu như có liên quan đến nguồn nước cấp riêng.

          Nếu ao có tôm bị bệnh phải thu khẩn cấp thì nước thải phải được bơm vao ao gần đó hoặc ao chứa để tẩy trùng bằng Chlorin và lưu giữ ít nhất 4 ngày trước khi thao đi. Toàn bộ nước từ ao đã thu hoạch cần được tháo vào ao xử lý và bất cứ phế liệu nào cũng đều phải chôn vùi hoặc đốt. Người thu hoạch tôm phải thay quần áo vá tắm ở nơi mà nước sẽ được dẫn vào ao xử lý. Quần áo của người thu hoạch cần xếp vào trùng riêng để gửi đi khử trùng và giặc là. Các thiết bị, xe cộ, giày dép và phía ngoài các thùng đựng tôm phải tháo ra ao xử lý. Nhà máy chế biến cần được thông báo về những lô tôm có bệnh đốm trắng và các biện pháp thích hợp cần được tiến hành trong nhà máy để tránh sự lây truyền bệnh qua các thùng vận chuyển và phế thải chế biến. Cần ngăn chặn việc đưa tôm sống từ vùng có dịch virus đốm trắng cục bộ tới những vùng chưa hề có bệnh hoặc những vùng được coi là sạch bệnh.

4.5, Hội chứng Taura

4.5.1. Tác nhân gây bệnh:

Hội chứng Taura gây ra bởi virus hội chứng Taura (TSV). Nó tạm thời được xếp vào họ Picomaviridae dựa trên hình thái học của nó.

4.5.2. Vật chủ:

Virus hội chứng Taura gây bệnh ở nhiều loài tôm he Mỹ. Loài mẫn cảm nhất là tôm chân trắng Penaeus vannamei.

4.5.3. Phân bố địa lý:

Hội chứng Taura lần đầu tiên được xác định ở các trại nuôi tôm gần sông Taura, Ecuador vào năm 1992. Sau đó bệnh lan tràn ra hầu khắp các vùng nuôi tôm thịt của châu Mỹ La tinh bao gồm Hawaii và vùng bờ biển Thái Bình Dương của Colomba, Costarica, Ecuador, El Salvador, Guatemala, Honduras, Mexico, Nicaragua, Panama và Peru.

Virus hội chứng Taura cũng được tìm thấy ở tôm nuôi dọc bờ biển Đại Tây Dương của Belize, Brazil, Columbia, Mexico và Venezuela và các bang Nam Mỹ như Bang Florida, Nam Carolina và Texas.

4.5.4. Dấu hiệu bệnh lý:

Hội chứng Taura đặc biệt gây hại cho hậu ấu trùng P.vannamei khoảng 14-40 ngày sau khi thả vào ao nuôi hoặc bể nuôi tôm thịt, tuy nhiên ở các giai đoạn lớn hơn chúng vẫn có thể bị lây nhiễm nặng. Hội chứng Taura được chia thành 3 giai đoạn khá rõ: (1) Giai đoạn cấp tính, ở giai đoạn này phần lớn tôm bị chết; (2) Giai đoạn chuyển tiếp ngắn; (3) Giai đoạn mãn tính của vật mang bệnh. ễÛ Giai đoạn cấp tính biểu mô cutin bị tác động mạnh nhất. ễÛ giai đoạn mãn tính, cơ quan bạch huyết là nơi có ưu thế bị bệnh. ễÛ giai đoạn bị bệnh cấp tính tôm P.vannamei có tỷ lệ chết cao (40-90%). Những tôm sống sót qua giai đoạn bệnh cấp tính sẽ chuyển qua một giai đoạn chuyển tiếp ngắn rồi chuyển sang giai đoạn mản tính và có thể sống sót. Giai đoạn cận lâm sàng của việc nhiễm bệnh này được coi là có tham gia vào việc lan truyền bệnh qua vật mang virus Taura sống.

4.5.5. Các kiểu lan truyền bệnh:

Tôm sống sót qua giai đoạn cấp tính và giai đoạn chuyển tiếp của hội chứng Taura có thể duy trì lây nhiễm cận lâm sàng mãn tính ở cơ quan bạch huyết trong thời gian sống còn lại. Những con tôm này có thể lan truyền virus theo phương nằm ngang đối với các tôm khác nhạy cảm với bệnh. Sự lan truyền theo phương thẳng đứng cũng có thể diễn ra nhưng điều này cần phải được nghiên cứu thêm.

Ngoài ra, việc di chuyển các vật mang virus hội chứng Taura, các côn trùng thủy sinh, chim biển cũng tham gia vào việc lan truyền bệnh.

4.5.6. Các biện pháp kiểm soát bệnh:

Khả năng loại trừ bệnh phụ thuộc vào việc loại bỏ hoàn toàn nguồn tôm lây nhiễm, việc tiệt trùng cơ sở nuôi, tránh tái nhiễm virus (từ các thiết bị nuôi ở gần đó, tôm tự nhiên hoặc các vật mang bệnh cận lâm sàng…) và thả lại tôm giống mới sạch virus hội chứng Taura từ nguồn tôm bố mẹ sạch bệnh virus hội chứng Taura.

4.6, Bệnh hoại tử khối gan tụy

4.6.1. Tác nhân gây bệnh:

Bệnh hoại tử gan tụy (NHP) do một loại vi khuẩn có kích thước tương đối nhỏ, đa hình ở mức cao Gram âm, chỉ gây bệnh trong nội bao. Vi khuẩn gây bệnh NHP có hai hình dạng khác nhau về hình thái: một dạng là que nhỏ đa hình và không có tiêm  mao; trong khi đó dạng kia là một que dài xoắn có 8 tiên mao trên đỉnh của vi khuẩn và một tiên mao phụ (đôi khi là 2) ở gờ của vòng xoắn.

4.6.2. Vật chủ:

NHP gây bệnh trên tôm Penaeus vannamei P.stylirostris nhưng gây chết hàng loạt ở tôm P.vannamei.

4.6.3. Phân bố địa lý:

NHP lần đầu tiên được thấy ở Texas năm 1985. Các trận dịch khác cũng được ghi nhận ở hầu hết các nước châu Mỹ La tinh ở cả bờ biển Thái Bình Dương và Đại Tây Dương, bao gồm Brazil, Costarica, Ecuador, Mexico, Panama, Peru và Venezuela.

4.6.4. Dấu hiệu lâm sàng:

Vi khuẩn gây bệnh NHP chỉ tác động rõ rệt lên các tế bào biểu mô có liên quan đến tuyến gan tụy, cho đến nay vẫn chưa có loại tế bào nào khác bị nhiễm vi khuẩn này. Sự thay đổi các yếu tố môi trường đóng vai trò quan trọng cho việc bộc lộ các biểu hiện lâm sàng của bệnh NHP; trong đó nhân tố quan trọng nhất là độ mặn của nước trên 16 phần ngàn và nhiệt độ nước lớn hơn 26 oC.

4.6.5. Các kiểu lan truyền bệnh:

Phát hiện sớm bệnh lý NHP là rất quan trọng để tìmbiện pháp xử lý có hiệu quả do khả năng tiềm ẩn của nhóm sinh vật ăn thịt làm khuyếch đại và lan truyền bệnh. Xét nghiệm phân tử hậu ấu trùng của tôm bố mẹ bị bệnh cho thấy sự lan truyền bệnh theo trục ngang không xảy ra.

4.6.6. Các biện pháp kiểm soát bệnh:

Lấy mẫu định kỳ và kiểm tra bằng phương pháp mô học, kính hiển vi điện tử rất được khuyến cáo tại cáctrại nuôi đã xảy ra bệnh NHP và những nơi mà điều kiện môi trường thuận lợi cho bùng phát bệnh.

Giữ mực nước ao nuôi sâu hơn 2m và sử dụng Ca(OH)2 để xử lý đáy ao trong quá trình chuẩn bị ao trước khi thả giống có thể làm giảm tỷ lệ mắc bệnh NHP. Các biện pháp phòng ngừa bao gồm nạo vét bùn đáy ao, kéo dài thời gian phơi nắng cho ao và các kênh mương dẫn nước trong vài tuần, khử trùng dụng cụ đánh bắt và các thiết bị khác bằng cách dùng Calcium hypochlorine (Chlorine), phơi khô và rải vôi khắp ao.

Lấy mẫu định kỳ và kiểm tra bằng phương pháp mô học, kính hiển vi điện tử rất được khuyến cáo tại cáctrại nuôi đã xảy ra bệnh NHP và những nơi mà điều kiện môi trường thuận lợi cho bùng phát bệnh.

Giữ mực nước ao nuôi sâu hơn 2m và sử dụng Ca(OH)2 để xử lý đáy ao trong quá trình chuẩn bị ao trước khi thả giống có thể làm giảm tỷ lệ mắc bệnh NHP. Các biện pháp phòng ngừa bao gồm nạo vét bùn đáy ao, kéo dài thời gian phơi nắng cho ao và các kênh mương dẫn nước trong vài tuần, khử trùng dụng cụ đánh bắt và các thiết bị khác bằng cách dùng Calcium hypochlorine (Chlorine), phơi khô và rải vôi khắp ao.


Bạn đã không sử dụng Site, Bấm vào đây để duy trì trạng thái đăng nhập. Thời gian chờ: 60 giây